CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Doanh nghiệp phải công bố thông tin gì khi thành lập?

 



 
Quy định về công bố thông tin doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và được sửa đổi bởi Nghị định 108/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

Doanh nghiệp sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục và phải trả phí theo quy định. Việc đề nghị công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp là thủ tục bắt buộc, được thực hiện tại thời điểm doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Thông tin công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Nội dung công bố bao gồm các nội dung trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và ngành, nghề kinh doanh. Ngoài ra, đối với công ty cổ phần có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài, cần công bố danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài. Trường hợp thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, những thay đổi tương ứng phải được thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Quy định về hình thức, thời gian và nội dung công bố khác so với quy định tại Luật doanh nghiệp 2005, cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Doanh nghiệp 2005, trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải công bố thông tin với một trong các hình thức đăng trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp. Nội dung công bố chủ yếu gồm: Tên doanh nghiệp; Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện; Ngành, nghề kinh doanh; Vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; số cổ phần và giá trị vốn cổ phần đã góp và số cổ phần được quyền phát hành đối với công ty cổ phần; vốn đầu tư ban đầu đối với doanh nghiệp tư nhân; vốn pháp định đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề đòi hỏi phải có vốn pháp định; Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của chủ sở hữu, của thành viên hoặc cổ đông sáng lập;  Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Nơi đăng ký kinh doanh.

Đối với phí công bố, theo quy định tại Thông tư 47/2019/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2019, lệ phí đăng ký doanh nghiệp, phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp là 100.000 đồng/lần , thay vì mức thu 300.000 đồng/lần như quy định tại Thông tư 215/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, có một số doanh nghiệp không cần thực hiện công bố thông tin doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động mà thực hiện công bố thông tin bằng hình thức khác. Chẳng hạn, đối với tổ chức hành nghề luật sư, trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, tổ chức hành nghề luật sư phải đăng báo hằng ngày của trung ương hoặc địa phương nơi đăng ký hoạt động hoặc báo chuyên ngành luật trong ba số liên tiếp. Đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng, phải công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và trên một tờ báo viết hằng ngày trong ba số liên tiếp hoặc báo điện tử của Việt Nam ít nhất ba mươi ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động.

 Ngoài công bố thông tin doanh nghiệp, còn có thủ tục công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được áp dụng đối với công ty đại chúng, tổ chức phát hành trái phiếu (ngoại trừ tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương), công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam, quỹ đại chúng. Các công ty, tổ chức này phải thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán tại Luật chứng khoán quy định chi tiết về công bố thông tin, công bố trên trang thông tin điện tử (website) của công ty và hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Trên đây là quy định pháp luật về công bố thông tin doanh nghiệp, doanh nghiệp cần chú ý để thực hiện theo đúng quy định pháp luật trước khi đi vào hoạt động chính thức. Nếu có bất cứ thắc mắc nào về thủ tục thành lập doanh nghiệp vui lòng liên hệ với công ty luật để được hỗ trợ. 

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

Những hoạt động nào được cho phép khi thực hiện cách ly xã hội theo Chỉ thị 16?

 


 Ngày 31 tháng 03 năm 2020, Thủ tướng Việt Nam ban hành chỉ thị để thực hiện một số biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn và kiểm soát dịch Covid-19. Việc cách ly xã hội là chưa có tiền lệ, và chủ yếu dựa trên sự tự giác tuân của mỗi người dân. Theo đó, việc cách ly xã hội được thực hiện tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 1 tháng 04 đến ngày 15 tháng 04 năm 2020. Điều này không cấm đi ra ngoài, nhưng nó đề nghị người dân chỉ nên đi ra ngoài trong một số trường hợp cần thiết trên thực tế như mua thực phẩm, nhiên liệu, thuốc và những trường hợp khẩn cấp khác. Các cơ quan nhà nước sẽ làm việc tại nhà, những doanh nghiệp tư nhân cũng được đề nghị để mọi người làm việc tại nhà. Những doanh nghiệp kinh doanh được phép mở để cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thiết yếu. Đối với những nhà máy sản xuất và văn phòng cần phải làm việc thì tiếp tục thực hiện sản xuất hoặc kinh doanh, nhưng cần phải đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn như không tập trung quá hai người, giữ khoảng cách tối thiểu 2m, luôn luôn sử dụng khẩu trang, làm sạch tay thường xuyên và khử trùng nơi làm việc.

Từ khía cạnh pháp lý, sẽ có nhiều vấn đề tiêu cực không lường trước được và nhiều hậu quả pháp lý xảy ra trong việc tranh chấp về quan hệ lao động, tranh chấp trong thực hiện hợp đồng, tranh chấp trong giao dịch kinh doanh, tranh chấp giữa các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền… phát sinh do việc mâu thuẫn do cách ly xã hội. Có ý kiến cho rằng các bên tham khảo các hợp đồng, quy định và chuẩn bị cho các tình huống thích hợp. Trong trường hợp này, các bên tranh chấp cân nhắc để đàm phán nhằm đạt được những thỏa thuận chung và cân nhắc tầm quan trọng của các quy định pháp luật và an toàn, hơn là những rủi ro trong kinh doanh gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu không đạt được thỏa thuận, các luật sư giải quyết tranh chấp sẽ là lựa chọn phù hợp để tham khảo ý kiến giải quyết.


Những lợi thế thu hút FDI của Việt Nam trong năm 2021

 


 Trong năm 2020, do ảnh hưởng của dịch covid-19, chuỗi cung ứng toàn cầu đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã kéo theo việc dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc diễn ra nhanh chóng. Trong đó, có bốn lĩnh vực mà các tập đoàn có xu hướng dịch chuyển sang Việt Nam, thành lập công ty, xin giấy phép đầu tư là công nghệ thông tin và công nghệ cao, thiết bị điện tử, thương mại điện tử và logistics, hàng tiêu dùng và bán lẻ.

Một số doanh nghiệp lớn trên thế giới bắt đầu tuyển dụng, tìm kiếm chuỗi cung ứng, và Việt Nam là một trong những điểm đến trong quá trình dịch chuyển bên cạnh các quốc gia khác trong khu vực như Indonesia, Thailand hay Malaysia.

Việt Nam với lợi thế ở gần Trung Quốc, thuận lợi cho việc dịch chuyển đầu tư, máy móc thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, việc có các chính sách thu hút FDI từ Việt Nam sẽ khiến cho các nhà đầu tư quốc tế dễ dàng trong việc thực hiện dịch chuyển đầu tư.

Đồng thời, Việt Nam cũng tham gia nhiều các Hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới sẽ giúp cho việc hợp tác trở nên thuận lợi hơn. Ngoài ra, việc ổn định trong giá trị đồng Việt Nam cũng là một điểm mạnh thu hút đầu tư quốc tế.

Dữ liệu của các hãng môi giới bất động sản công nghiệp so sánh tỷ lệ lấp đầy và giá thuê các khu công nghiệp ở các nước Đông Nam Á trong quý 1 vừa qua cho thấy Việt Nam có mức giá thuê trung bình thấp hơn 45-50% so với các nước Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Theo báo cáo của năm 2019, chi phí lao động của Việt Nam cũng thấp hơn so với Thái Lan, Malaysia và Indonesia, bên cạnh đó, nguồn lao động tại Việt Nam ngày càng dồi dào và chất lượng lao động ngày càng tăng.

Về giá điện, theo EVN, so sánh giá điện năm 2019 của Việt Nam so với các nước trong khu vực được thống kê cho thấy, giá điện của Việt Nam đạt mức 80% so với giá điện của Indonesia; 42,1% so với giá điện của Philippine và 66,7% so với giá điện của Campuchia.

Ngoài ra, với việc áp dụng các chính sách hỗ trợ như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, hỗ trợ thuê đất, cung ứng nguồn lao động cùng với việc giảm bớt các thủ tục hành chính, Việt Nam xứng đáng trở thành điểm đến đầu tư lý tưởng hiện nay.


Thứ Hai, 3 tháng 5, 2021

Vai trò của hợp đồng lao động trong hoạt động quản trị doanh nghiệp

  




Bất kì hoạt động quản lý nào, dù là quản lý nói chung hay quản lý lao động nói riêng muốn thực hiện được thì chủ thể quản lý đều phải thiết lập các công cụ, phương tiện để quản lý. Trong lĩnh vực luật lao động, chủ thể có quyền quản lý người lao động (sau đây gọi chung là “NLĐ”) bao gồm nhà nước và người sử dụng lao động (sau đây gọi chung là “NSDLĐ”). Song, nếu Nhà nước thiết lập công cụ quản lý lao động bằng hệ thống pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì NSDLĐ có quyền thiết lập các công cụ quản lý lao động phù hợp với điều kiện cụ thể  trong đơn vị của mình trên cơ sở quy định của pháp luật. Công cụ quản lý lao động của NSDLĐ bao gồm các văn bản do NSDLĐ đơn phương ban hành như nội quy lao động, quy chế, quyết định và các văn bản được thiết lập dựa trên cơ sở thoả thuận với bên NLĐ, tập thể lao động như thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và các thoả thuận khác.

Hợp đồng lao động là một trong những công cụ quản lý lao động hữu hiệu trong doanh nghiệp. Là sự thoả thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Chính do yếu tố quản lý lao động trong hợp đồng lao động nên để duy trì, ổn định quan hệ lao động và bảo vệ lợi ích của cả hai bên, nhất là lợi ích của NLĐ, pháp luật lao động hiện hành đã giới hạn quyền quản lý lao động của NSDLĐ trong hợp đồng lao động. Theo đó, các vấn đề về nội dung, hình thức, thời hạn, nguyên tắc ký kết, thời giờ làm việc, tiền lương, bảo hiểm, các trường hợp thay đổi, tạm hoãn hoặc chấm dứt,… được quy định cụ thể nhưng rải rác ở rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Có thể thấy vai trò quan trọng của hợp đồng lao động thể hiện ở:

– Hợp đồng lao động ghi nhận những cam kết làm cơ sở cho việc thực hiện và đảm bảo các quyền, nghĩa vụ của các bên, thể hiện ý chí của các bên, sự bình đẳng, tự do của NLĐ và NSDLĐ trong quá trình xác lập và duy trì mối quan hệ lao động.

– Hợp đồng lao động là cơ sở để NSDLĐ thực hiện quyền quản lý lao động. Khi đã giao kết hợp đồng lao động NLĐ đã trở thành người bị quản lý. Chỉ có thiết lập quan hệ dựa trên hợp đồng lao động thì NSDLĐ mới có được quyền quản lý đó.

– Hợp đồng lao động là cơ sở để giải quyết các chế độ liên quan đến NLĐ, đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội, bởi vì các yếu tố về tiền lương thể hiện trong hợp đồng lao động là điều kiện quan trọng để xác định mức đóng bảo hiểm xã hội của NLĐ và được sử dụng như là cơ sở căn bản để tính toán mức đóng và mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của NLĐ.

– Hợp đồng lao động là cơ sở để giải quyết các tranh chấp giữa hai bên trong quan hệ lao động. Đặc biệt, hợp đồng lao động bằng văn bản vừa đóng vai trò là chứng cứ chứng minh, vừa đóng vai trò là “quy phạm” để giải quyết các vụ việc tranh chấp.

Có vai trò rất quan trọng nhưng thực tế, ở hầu hết các doanh nghiệp, các nội dung trong hợp đồng lao động về mức lương, hình thức trả lương, chế độ nâng lương, nâng bậc lương, đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội,… đều ghi chung chung “theo quy định của pháp luật hiện hành” hoặc “theo quy định của công ty”, các nội dung về phụ cấp lương, tiền thưởng, các khoản bổ sung khác đều ghi “đã tính vào lương”. Nội dung công việc phải làm ghi “theo sự phân công của trưởng bộ phận” hoặc “theo nghề nghiệp của công nhân”,…

Khi các quy định của pháp luật đều ở mức tối thiểu về quyền lợi, tối đa về nghĩa vụ thì quyền, lợi ích, nghĩa vụ cụ thể của NLĐ trong  hợp đồng lao động hoàn toàn do NSDLĐ quyết định. Khác với lĩnh vực dân sự, luật lao động có những nguyên tắc riêng, nên mặc dù hợp đồng lao động được ghi nhận là sự thỏa thuận giữa các bên liên quan, nhưng những thỏa thuận này đều có những giới hạn nhất định mà các bên không được vượt quá được quy định trong các văn bản luật và dưới luật. Điều đó đã thể hiện sự can thiệp của các nhà nước vào quyền và trách nhiệm của NSDLĐ trong quá trình ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động. Hay nói cách khác, khung pháp lý cho sự thoả thuận các nội dung trong hợp đồng lao động rõ ràng là hẹp hơn rất nhiều so với khung pháp lý cho sự thoả thuận các nội dung trong hợp đồng dân sự. Điều đó lí giải tại sao ra đời trên cơ sở thoả thuận mang tính cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ về quyền và nghĩa vụ của hai bên, song pháp luật lao động lại quy định khá cụ thể các vấn đề pháp lý về hợp đồng lao động so với các văn bản nội bộ khác như thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế, quyết định.

Do đó, để có một bản hợp đồng lao động đầy đủ các nội dung, phù hợp và thiết thực với mô hình của chính doanh nghiệp thì không phải doanh nghiệp nào cũng đủ am hiểu để có thể tự mình soạn được một bản hợp đồng lao động được pháp luật cho phép. Việc soạn thảo hợp đồng lao động đòi hỏi rất nhiều kỹ năng cùng những hiểu biết chuyên sâu về các quy định pháp luật có liên quan, không những phải đảm bảo được lợi ích của các bên mà còn phải dự kiến được những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai để từ đó có thể điều chỉnh các điều khoản hợp đồng cân bằng giữa hoàn cảnh thực tiễn và quy định của pháp luật.


Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

Chuyển nhượng dự án đầu tư tại Việt Nam

  


Làm sao để chuyển nhượng dự án đầu tư tại Việt Nam?

Theo quy định của pháp luật đầu tư hiện hành, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng các điều kiện nhất định và thực hiện điều chỉnh dự án đầu tư theo quy định của pháp luật.

Điều kiện thực hiện:

·         Dự án đầu tư không thuộc trường hợp bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 1, Điều 48 Luât đầu tư 2014;

·         Nhà đầu tư nhận chuyển nhượng phải đáp ứng được các điều kiện trong trường hợp chuyển nhượng dự án thuộc ngành nghề đầu tư có điều kiện;

·         Tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản trong trường hợp chuyển nhượng dự án gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

·         Đáp ứng các điều kiện quy định tại GCN đăng ký đầu tư hoặc theo quy định khác của pháp luật có liên quan nếu có

Chuẩn bị hồ sơ:

·         Văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư;

·         Báo cáo tình hình thực hiện dự án đầu tư đến thời điểm chuyển nhượng dự án đầu tư;

·         Hợp đồng chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc tài liệu khác có giá trị pháp lý tương đương;

·         Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân, bản sao GCN đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu khác có giá trị pháp lý tương đương đối với nhà đầu tư là tổ chức của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng;

·         Bản sao GCN đăng ký đầu tư hoặc văn bản quyết định chủ trương đầu tư (nếu có);

·         Bản sao hợp đồng BCC đối với dự án theo hình thức hợp đồng BCC;

·         Bản sao một trong các tài liệu sau của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng dự án đầu tư, báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư, cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ, cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính, bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư, tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư.

Trình tự, thủ tục:

·         Nhà đầu tư chuyển nhượng dự án đầu tư nộp hồ sơ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư (hoặc Ban quản lý khu kinh tế);

·         Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với dự án đầu tư hoạt động theo GCN đăng ký đầu tư và không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư (hoặc 28 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh; 47 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương của Thủ tướng Chính phủ), cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư chuyển nhượng dự án.

Trước khi chuyển nhượng dự án, các nhà đầu tư cần nắm rõ về tình hình pháp lý ngoài các vấn đề về tài chính, nhân sự và các vấn đề trọng yếu khác của dự án, là đối tượng của chuyển nhượng.  Do vậy, để đảm bảo việc chuyển nhượng có hiệu quả, các nhà đẩu tư thường sử dụng công ty luật với các luật sư có chuyên môn cao để nghiên cứu thẩm định pháp lý (due diligence) toàn diện, đánh giá về các vấn đề liên quan tới các giấy tờ pháp lý của chủ sở hữu, góp vốn của cổ đông hay thành viên, tài sản hữu hình (quyền sử dụng đất, nhà xưởng và máy móc, thiết bị…) và tài sản vô hình (bao gồm các quyền về sở hữu công nghiệp), giấy phép, hợp đồng hay các giao dịch có giá trị lớn, thuế, và các rủi ro pháp lý như tranh chấp, kiện tụng khác.

Việc chuyển nhượng dự án đầu tư là thủ tục hành chính với cơ quan nhà nước chỉ thuận lợi khi các bên trong giao dịch chuyển nhượng đạt được các thỏa thuận, và trên thực tế , việc chuyển nhượng dự án đầu tư nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào quá trình thẩm định, đánh giá của các bên liên quan tới dự án.

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

Sự cần thiết của việc hòa giải thương mại trong thực hiện các hợp đồng giao dịch quốc tế

 

Theo báo cáo gần đây của World bank về chỉ số giải quyết tranh chấp hợp đồng, thời gian trung bình để giải quyết một vụ tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án là 400 ngày và phải trải qua 25 thủ tục tố tụng tại tòa.

Việc giải quyết tranh chấp ở Tòa án hiện nay còn rất nhiều vướng mắc liên quan đến việc giải quyết và thi hành án, việc có quá nhiều thủ tục và hiệu quả thi hành án chưa cao, điều này dẫn đến việc các bên tranh chấp trong hợp đồng thương mại mất nhiều thời gian và chi phí giải quyết. Vì vậy, việc lựa chọn giải quyết tranh chấp ở các Trung tâm hòa giải là điều cần thiết để giải quyết vấn đề này.

Hiện nay, các cơ quan liên quan cũng có những biện pháp tích cực để kêu gọi việc áp dụng các biện pháp hòa giải thương mại trong hợp đồng thương mại quốc tế, nhằm giải quyết hiệu quả, nhanh chóng hơn những tranh chấp trong thương mại quốc tế. Việc áp dụng giải quyết tranh chấp thương mại tại các Trung tâm hòa giải ở Việt Nam sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí giải quyết tranh chấp, Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp ở các Trung tâm hòa giải cũng sẽ giúp các bên giữ vững được uy tín, niềm tin của nhau trong việc giao dịch trong tương lai.

Tính tới tháng 8 năm 2019, ở Việt Nam có 7 Trung tâm hòa giải thương mại được Bộ Tư pháp cấp giấy phép thành lập, với đội ngũ hòa viên, luật sư được cấp chứng chỉ trong nước và quốc tế, có thể giải quyết những tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế, từ đó giúp cho các tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế có thể được giải quyết nhanh chóng, dễ dàng. Việc lựa chọn các trung tâm hòa giải trong việc giải quyết tranh chấp, sẽ giúp cho các bên tiết kiệm thời gian, chí phí và giữ được uy tín của mình trong việc kinh doanh sau này.

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Thị trường vận tải ở Việt Nam- Cơ hội đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài

  


Hiện nay, Việt Nam là quốc gia được đánh giá có nền kinh tế, chính trị ổn định, đang dần trở thành điểm đến đầu tư của nhiều nhà đầu tư trên thế giới. Bên cạnh đó, với mục tiêu trở thành một bộ phận của chuỗi cung ứng toàn cầu, vì vậy thị trường vận tải ở Việt Nam đang có nhu cầu phát triển mạnh, nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa của các doanh nghiệp.

Là một quốc gia giáp biển, Việt Nam được xem là nơi giao thương của các nước trong khu vực Đông Nam Á, châu Á và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Các phương thức vận tải phổ biến bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không và đường ống. Theo chiến lược được Chính phủ đặt ra tới năm 2030, các doanh nghiệp vận tải ở Việt Nam sẽ được phát triển với định hướng áp dụng mô hình quản trị tiên tiến, hiệu quả kinh doanh cao, có sức cạnh tranh, làm chủ thị trường vận tải trong nước, chiếm vai trò quan trọng trong vận tải xuất, nhập khẩu hàng hóa, từng bước vươn ra đầu tư kinh doanh có hiệu quả trên thị trường vận tải quốc tế, cụ thể như sau:

  1. Hoàn thành tái cơ cấu doanh nghiệp vận tải nhà nước theo hướng đẩy mạnh cổ phần hoá, giảm thiểu số lượng và tỷ lệ sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp vận tải, trừ trường hợp tại các đơn vị kinh doanh vận tải đảm bảo quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội.
  2. Tách biệt kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt với kinh doanh vận tải thành các doanh nghiệp độc lập, khẩn trương cổ phần hoá các doanh nghiệp vận tải và cung ứng dịch vụ hỗ trợ vận tải đường sắt.
  • Hình thành một số doanh nghiệp vận tải hàng hoá đa phương thức có quy mô lớn, có khả năng thực hiện các chuỗi vận tải hoàn chỉnh đường bộ - đường sắt - đường biển hoặc đường bộ - đường thuỷ - đường biển, đường bộ - đường hàng không; tăng cường kết nối dịch vụ vận tải giữa các phương thức thông qua việc kết nối hoạt động phân phối dịch vụ, đặc biệt ưu tiên phát triển mô hình bán vé liên thông giữa các phương thức vận tải hành khách.

Về việc thực hiện đầu tư trên lĩnh vực vận tải đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo quy định tại Biểu cam kết dịch vụ WTO và EVFTA, các công ty vận tải biển nước ngoài có thể thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện các hoạt động bao gồm: (i) Bán và tiếp thị dịch vụ vận tải biển qua giao dịch trực tiếp với khách hàng, từ niêm yết giá tới lập chứng từ; (ii) Đại diện cho chủ hàng; (iii) Cung cấp các thông tin kinh doanh theo yêu cầu; (iv) Chuẩn bị tài liệu liên quan tới chứng từ vận tải bao gồm chứng từ hải quan hoặc các chứng từ khác liên quan đến xuất xứ và đặc tính của hàng vận chuyển; và (v) Cung cấp dịch vụ vận tải biển bao gồm cả dịch vụ vận tải nội địa bằng tàu mang cờ Việt Nam trong trường hợp cung cấp dịch vụ vận tải tích hợp; (vi) Thay mặt công ty tổ chức cho tàu vào cảng hoặc tiếp nhận hàng khi có yêu cầu; (vii) Đàm phán và ký hợp đồng vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa liên quan tới hàng hóa do công ty vận chuyển.

Với chiến lược phát triển và mở cửa thu hút nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam hi vọng sẽ có nhiều nhà đầu tư vận tải quốc tế thực hiện đầu tư, để không chỉ phát triển thị trường vận tải tại Việt Nam, mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư quốc tế.