CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

 


 Ngày 06 tháng 3 năm 2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 13/2020/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều cảu Thông tư 13/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Thông tư 13/2020/NTT-BTC, kiểm soát hải quan đối với hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan hoặc/và các biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan thực hiện theo quy định của pháp luật để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa là hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong địa bàn hoạt động hải quan. So với quy định tại Thông tư 13/2015/TT-BTC, phạm vi kiểm soát hải quan đối với hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được mở rộng, không chỉ là biên giới, các khu phi thuế quan.

Bộ Tài chính bổ sung trường hợp từ chối tiếp nhận đơn đề nghị kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức cá nhân, cụ thể: Cơ quan hải quan có thể từ chối nhận đơn nếu hồ sơ nộp bổ sung quá thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày có thông báo nộp bổ sung.

Bên cạnh đó, sửa đổi bổ sung quy định về xử lý hàng hóa có dấu hiệu bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của cơ quan hải quan, nếu chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc người được ủy quyền hợp pháp không có yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan thì cơ quan hải quan tiếp tục làm thủ tục hải quan. Trường hợp chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc người được ủy quyền hợp pháp không có văn bản đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan nhưng nộp một khoản tiền hoặc chứng từ bảo lãnh theo quy định hoặc có đơn đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan nhưng không nộp một khoản tiền hoặc chứng từ bảo lãnh theo quy định, Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục hải quan không thực hiện việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa, trừ trường hợp phát hiện hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ. Ngược lại, nếu chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan, Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục hải quan ra Quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan. Trường hợp có đủ cơ sở xác định hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan xem xét quyết định áp dụng ngay các biện pháp xử lý theo quy định tại Điều 214 và Điều 215 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, đồng thời phối hợp với lực lượng kiểm soát các cấp để thu thập thông tin, điều tra, xác minh về hàng hóa để xử lý theo quy định. Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan. Ngoài ra, khác với quy định trước đây, người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan có thể gia hạn khi hết thời hạn (nếu có lý do chính đáng) với điều kiện nộp thêm tiền hoặc chứng từ bảo lãnh, thời hạn gia hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn tạm dừng theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Thông tư 05/2020/TT-BTC.

Quy định về tạm dừng làm thủ tục hải quan đối khi phát hiện dấu hiệu hàng hóa bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là quy định nhằm bảo hộ những hàng hóa đã được đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình có giá trị nhất đối với mỗi doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp... áp dụng cho sản phẩm được đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, thì các đối tượng sở hữu trí tuệ này sẽ trở thành tài sản của doanh nghiệp, và mang lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi thế về quyền độc quyền, chính sách bảo hộ.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 4 năm 2020. Tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; Tổ chức, cá nhân là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu hàng thật bị làm giả hoặc đại diện hợp pháp của chủ sở hữu cần theo dõi thực hiện theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của mình.

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

 


 Từ năm 2015 trở về đây, làn sóng startup nhỏ và vừa tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Theo sau sự phát triển này là sự hỗ trợ của chính phủ trong việc thiết lập hành lang pháp lý, đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp, khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp,… Để được xem là một startup, cá nhân hoặc doanh nghiệp phải khởi nghiệp đi kèm với ý tưởng có tính sáng tạo. Hiện nay, khởi nghiệp sáng tạo là thuật ngữ pháp lý của startup được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017.

Nhằm làm rõ, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo thuộc là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh. Đây là những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh, gắn với những đỉnh cao của khoa học công nghệ hoặc sáng tạo những mô hình kinh doanh mới, cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong nhằm tạo dựng phân khúc thị trường mới và có cơ hội tăng trưởng nhanh, tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới.

Chỉ thị 9/CT-TTg ngày 18/02/2020 của Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành liên quan như Bộ Kế hoạch Đầu tư, Khoa học và Công nghệ,… thực hiện một loạt các giải pháp, nhiệm vụ tháo gỡ rào cản, vướng mắc, bổ sung cơ chế, chính sách tạo điệu kiện thuận lợi cho khởi nghiệp sáng tạo. Trong đó, bao gồm việc đề xuất sửa đổi Luật Đầu tư theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài thành lập, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 2017 cùng các nghị định hướng dẫn đã có hiệu lực, tuy nhiên chưa rõ ràng vấn đề nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sẽ thực hiện theo thủ tục nào nếu không thực hiện xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Hiện tại, cần chờ hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp này.

Ngoài ra, theo Luật Đầu tư 2020, dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo được đưa vào đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư mới được bổ sung trong Luật Đầu tư 2020. Khai thác công nghệ, sở hữu trí tuệ là một trong  các phạm vi được coi là dự án khởi nghiệp sáng tạo. Lĩnh vực công nghệ từ trước khi Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực đã có một số ưu đãi về thuế đối với những doanh nghiệp đủ điều kiện, gồm: hưởng ưu đãi thuế suất thu nhập doanh nghiệp ở mức 10% trong thời hạn 15 năm hoặc miễn thuế bốn năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo, không chịu thuế giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo nếu được chọn vào đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được  hỗ trợ tư vấn về sở hữu trí tuệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ; thực hiện các thủ tục về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng, thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mới, mô hình kinh doanh mới; hỗ trợ về ứng dụng, chuyển giao công nghệ;  hỗ trợ về đào tạo, thông tin, xúc tiến thương mại, thương mại hóa;  hỗ trợ sử dụng cơ sở kỹ thuật, cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung theo quy định tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP.

Thứ Năm, 25 tháng 3, 2021

Sở hữu trí tuệ – tài sản vô hình nhưng vô cùng quan trọng

 


 
Ngày nay, tài sản trí tuệ ngày càng được coi trọng và được bảo vệ trên phạm vi toàn cầu. Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình nhưng tạo ra giá trị thương mại không hề nhỏ đối với chủ sở hữu, do đó các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ cũng xảy ra ngày càng nhiều hơn. Việc thiếu hiểu biết về các quy định của sở hữu trí tuệ trong một số trường hợp có thể dẫn đến việc xâm phạm các quyền được pháp luật bảo vệ.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố cốt lõi góp phần tạo nên thành công của doanh nghiệp. Và việc toàn cầu hóa cùng với đó là sự xâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dù hoạt động trong lĩnh vực nào thì việc xác lập bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ về sáng chế, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu là yếu tố sống còn của chính doanh nghiệp. Do đó bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không mong muốn việc công sức gây dựng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp bị một chủ thể khác lợi dụng cho các sản phẩm, hàng hóa không phải của mình.

Cần phải thấy rõ những giá trị mà việc bảo hộ sở hữu trí tuệ mang lại. Vậy điều gì đã khiến giá bán của một thiết bị điện tử được đẩy lên cao trong khi vẫn có hàng triệu người sẵn sàng chi trả. Đó là do uy tín, chất lượng của sản phẩm tạo nên giá trị thương hiệu của một doanh nghiệp. Thuật ngữ “thương hiệu” là thuật ngữ trong ngành kinh tế, trong các văn bản pháp lý, nó được biết đến là “nhãn hiệu”, đây chính là một trong những tài sản vô cùng có giá trị trong thời đại ngày nay. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tài sản vô hình này ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của doanh nghiệp và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Từ những giá trị mà tài sản trí tuệ có thể mang lại, việc xâm phạm sở hữu trí tuệ thường hay xảy ra, việc giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý,… nhằm trục lợi từ những sản phảm tương tự hoặc thậm chí có chất lượng kém hơn. Việc này gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của chính chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ. Vì vậy, song hành với các sáng chế, sáng tạo thì doanh nghiệp phải nâng cao nhận thức trong vấn đề đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ và đó cũng chính là xác lập quyền sở hữu tài sản vô hình của doanh nghiệp theo quy định pháp luật.

Các doanh nghiệp cần phải có cơ chế bảo vệ tài sản trí tuệ do doanh nghiệp mình gây dựng nên thông qua việc đăng ký bảo hộ, khác với các tài sản hữu hình khác, trí tuệ là tài sản vô hình không thể nhận định, đánh giá bằng cách thông thường, nếu không thực hiện đăng ký bảo hộ ngay từ đầu, dễ dàng dẫn đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với chủ sở hữu, để đáp ứng nhu cầu xã hội, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam dần hoàn thiện, tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, góp phần bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu sản phẩm sở hữu trí tuệ, đồng thời việc Việt Nam tham gia ký kết các điều ước quốc tế đã giúp cho sản phẩm được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam không những được bảo hộ trong nước mà còn được bảo hộ trong hệ thống những quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Chủ Nhật, 21 tháng 3, 2021

Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Ở Việt Nam

 

 

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

Có 3 biện pháp để giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đó là: Biện pháp hình sự; biện pháp dân sự và biện pháp hành chính.
Thông thường, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp bị xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử lý hành chính. Trong khi đó, ranh giới giữa biện pháp dân sự và biện pháp hành chính lại chưa thật sự rõ ràng, đặc biệt vấn đề những tranh chấp nào được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự và những tranh chấp nào được giải quyết bằng “con đường” hành chính. Hệ quả là, nhiều tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ lẽ ra phải được giải quyết theo thủ tụng tố tụng dân sự nhưng lại giải quyết theo thủ tục hành chính

Quy định không rõ ràng về thẩm quyền dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan, các cơ quan đôi khi thực hiện công việc không thuộc thẩm quyền của mình, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Người có quyền khởi kiện tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ

Do pháp luật không quy định ai có quyền khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, dẫn đến trong thực tế người có quyền khởi kiện đôi khi bỏ mất quyền khởi kiện hoặc người không có quyền khởi kiện lại khởi kiện nên không được Toà án giải quyết.

Nguyên đơn trong vụ án về quyền sở hữu trí tuệ có thể là tác giả, chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ hoặc một số người có quyền liên quan khác. Cụ thể như sau:

Đối với những tranh chấp về quyền tác giả, những người sau đây có quyền khởi kiện:

Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;
Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;
Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả;
Người được thừa kế của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;
Người có quyền liên quan đến quyền tác giả, bao gồm: người biểu diễn; tổ chức sản xuất băng âm thanh, băng hình; tổ chức phát sóng;
Người có quyền sử dụng hợp pháp tác phẩm thông qua hợp đồng sử dụng tác phẩm;
Tổ chức, cá nhân được các chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của pháp luật.

Đối với tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp, những người sau đây có quyền khởi kiện:

Tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng.
Chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí mật kinh doanh.
Người sử dụng hợp pháp tên gọi xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý.
Người được thừa kế quyền sở hữu công nghiệp.
Người có quyền sử dụng hợp pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp thông qua hợp đồng li-xăng.
Người biểu diễn; tổ chức, cá nhân sản xuất băng ghi âm, ghi hình; tổ chức phát thanh, truyền hình.
Tổ chức, cá nhân được các chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của pháp luật.

Nếu có bất cứ thắc mắc về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết về tranh chấp vui lòng liên hệ công ty luật để biết thêm chi tiết.