CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuế thu nhập doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuế thu nhập doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2021

Nghĩa Vụ Thuế Của Văn Phòng Đại Diện Thương Nhân Nước Ngoài Tại Việt Nam

  Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép. Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Văn phòng đại diện của mình tại Việt Nam.

Theo quy định tại Luật thương mại 2005, văn phòng đại diện không được phép thực hiện hoạt động kinh doanh, cũng như thực hiện các hoạt động khác nhằm mục đích phát sinh lợi nhuận, chỉ được thực hiện các hoạt động đúng mục đích, phạm vi và thời hạn được quy định trong giấy phép thành lập văn phòng đại diện. Bên cạnh đó, được quyền thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của văn phòng đại diện; tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam; sử dụng tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ do thương nhân nước ngoài mở tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của văn phòng đại diện; có con dấu mang tên văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam. Văn phòng đại diện có thể thực hiện việc ký kết hợp đồng, thực hiện các giao dịch với đối tác khi có sự ủy quyền của doanh nghiệp.

Như vậy, vì phạm vi hoạt động hạn chế nên nghĩa vụ thuế của một văn phòng đại diện nước ngoài hẹp hơn so với một công ty.

Theo Công văn số 15865/BTC-CST ngày 7 tháng 11 năm 2016, Công văn số 1025/BTC-CST ngày 20 tháng 1 năm 2017 hướng dẫn về lệ phí môn bài của Bộ Tài chính, trường hợp văn phòng đại diện của doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì phải nộp lệ phí môn bài; trường hợp văn phòng đại diện không hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì không phải nộp lệ phí môn bài theo quy định. Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép, không thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh nên không thuộc diện phải nộp lệ phí môn bài.

Về thuế thu nhập cá nhân, việc văn phòng đại diện có quyền tuyển dụng người lao động Việt Nam hoặc nước ngoài để làm việc tại văn phòng là căn cứ phát sinh nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Thông tư 111/2013/TT-BTC, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài là đối tượng phải đăng ký thuế thu nhập cá nhân. Với những người lao động làm việc tại văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam thì thu nhập chịu thuế chính là tiền lương, tiền công được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007. Nghĩa vụ kê khai, khấu trừ, nộp thuế và quyết toán thuế thu nhập cá nhân của người lao động làm việc tại văn phòng đại diện nước ngoài là trách nhiệm của chính văn phòng đại diện đó.
Trên đây là quy định về nghĩa vụ thuế của văn phòng đại diện thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. 



Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

Chuyển Giá Trong Kinh Doanh

Đối với mỗi doanh nghiệp, vấn đề làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt là vấn đề sống còn. Chuyển giá được xem như là biện pháp giúp tối đa hóa lợi nhuận, với nguyên tắc cơ bản là giúp doanh nghiệp giảm nghĩa vụ thuế, từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng.

Chuyển giá xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh. Theo đó, các chủ thể có quyền quyết định giá cả của một giao dịch, có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. Về mặt lý thuyết, chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá thị trường mà theo một mức giá thỏa thuận khác nhằm tối thiểu hóa số thuế của các tập đoàn hay của nhóm liên kết. Để thực hiện được các mục tiêu chuyển giá, doanh nghiệp thực hiện chuyển giá thông qua việc định giá khi nhập khẩu máy móc, thiết bị,… hay kê khai giá nguyên liệu đầu vào rất cao và kê khai giá bán thấp đồng thời tìm mọi cách khai tăng các chi phí khác (chi phí quảng cáo, khuyến mại) nhằm triệt tiêu lợi nhuận. Pháp luật luôn có quy định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là cách để các doanh nghiệp tránh thuế thu nhập doanh nghiệp tại nơi đăng ký hoạt động.
Để thực hiện chuyển giá cần có sự liên kết giữa các doanh nghiệp, công ty với nhau, dễ dàng nhất là các công ty con đặt tại nhiều nước khác nhau của một tập đoàn đa quốc gia. Do đó, chuyển giá thường hay được thực hiện trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài –  chủ thể hiện diện nhiều ở nhiều quốc gia, và việc các quốc gia khác nhau sẽ có các chính sách thuế khác nhau, dẫn đến mức thuế suất áp dụng cho thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau. Họ lợi dụng sự khác biệt thuế suất giữa các quốc gia, khu vực để trốn thuế. Tại Việt Nam thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%, tại Mỹ là 35%,… nhưng nhiều quốc gia khác như Panama, Hàn Quốc, Macau, Saint Lucia, Samoa, Tunisia,… là những thiên đường về thuế khi mức thuế thu nhập doanh nghiệp rất thấp hoặc thậm chí là 0%. Các doanh nghiệp này tự dàn xếp giá với nhau thông qua các giao dịch liên kết theo một trong những hình thức được đề cập như sau:
– Các doanh nghiệp nằm ở khu vực chịu thuế cao ký kết các hợp đồng mua bán nguyên vật liệu, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ… với vai trò là người mua, người sử dụng dịch vụ với các doanh nghiệp ở khu vực chịu thuế thấp. Bằng cách này, các doanh nghiệp ở khu vực có mức thuế cao luôn trong tình trạng lãi ít hoặc không có lãi để không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh thu sẽ được đẩy về các doanh nghiệp ở khu vực có mức thuế thấp.
– Hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lựa chọn một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới có mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp để làm địa điểm đặt trụ sở doanh nghiệp sau đó đầu tư vào Việt Nam. Công ty tại Việt Nam sẽ bán sản phẩm cho công ty mẹ tại các quốc gia này với giá bằng giá gốc để tránh nộp thuế tại Việt Nam. Sau đó, bên mua sẽ bán lại cho bên thứ ba thu lãi. Do thuế thu nhập doanh nghiệp tại những quốc gia nơi nhà đầu tư đăng ký đầu tư vào Việt Nam bằng 0%, hoặc ở mức rất thấp, nên doanh nghiệp không phải đóng thuế hoặc đóng thuế rất thấp.
Đây là những hành vi phổ biến nhất. Bởi với lợi thế nắm giữ phần vốn lớn tại các doanh nghiệp Việt Nam, bên liên kết nước ngoài có quyền định đoạt giá chuyển giao hàng hóa, nguyên liệu để chuyển được nhiều lợi nhuận trước thuế ra nước ngoài.
Chuyển giá hướng đến mục tiêu nhằm tối đa hóa lợi nhuận ở quốc gia đánh thuế thấp và tối thiểu hóa lợi nhuận ở những quốc gia đánh thuế cao. Thông qua các giao dịch liên kết này, các công ty trong nhóm cùng giảm được tổng nghĩa vụ thuế trên phạm vi toàn cầu, tăng được lợi nhuận sau thuế. Những doanh nghiệp sở hữu nhiều bản quyền sở hữu trí tuệ, như công nghệ hay dược phẩm, càng có cơ hội tiến hành chuyển giá vì việc định giá những giá trị phi vật chất này rất chủ quan và không có một tiêu chuẩn chung nào để định giá. Cách nhìn nhận khá phổ biến tại Việt Nam về chuyển giá là công cụ trốn thuế và hành vi vi phạm pháp luật. Hiện nay, vấn đề chuyển giá được điều chỉnh bởi Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết và Thông tư 41/2017/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.