CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

Trao đổi về vấn đề áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng thương mại

  

Ở Việt Nam, quan hệ hợp đồng thương mại nói chung được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Các văn bản quy phạm khác nhau đó tạo nên cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động thương mại nói chung được thực hiện trên cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên tham gia mà nhà nước cho phép.

Tuy nhiên, do các văn bản này điều chỉnh về cùng một vấn đề của hoạt động thương mại, dẫn đến sự quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Do đó, xác định luật áp dụng trong hợp đồngthương mại là một trong những vấn đề các bên tham gia giao kết phải chú ý, tránh xảy ra tranh chấp. Hai văn bản quy phạm pháp luật thường được áp dụng trong quan hệ thương mại gồm Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Ngoài hai văn bản quy phạm pháp luật này vẫn còn các ngành luật khác như Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh Bất động sản,… làm căn cứ điều chỉnh hợp đồng thương mại tùy từng trường hợp cụ thể.

Khi nào áp dụng Luật Thương mại?

 Thứ nhất, về các trường hợp đương nhiên áp dụng Luật Thương mại

Căn cứ Điều 1, Điều 2 Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam giữa các bên là thương nhân (bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh) thì Luật Thương mại đương nhiên được áp dụng.

Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định này là hoạt động thương mại không có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Điều 663 Bộ luật Dân sự, là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Cần chú ý rằng, theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mai 2005, những thứ được coi là hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản (kể cả động sản hình thành trong tương lai) và những vật gắn liền với đất đai, điều đó có nghĩa rằng quyền sử dụng đất không phải là hàng hóa và không chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại.

Ngoài tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và các cá nhân hoạt động có đăng ký kinh doanh, thì các cá nhân hoạt động không có đăng ký kinh doanh như buôn bán rong, buôn bán vặt, đánh giày, bán vé số, chữa khóa,… phải tuân theo quy định của Nghị định 39/2007/NĐ-CP, pháp luật về th­ương mại áp dụng đối với thương nhân và pháp luật có liên quan.

Thứ hai, các trường hợp thỏa thuận áp dụng Luật Thương mại

Căn cứ Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này. “Bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi” được hiểu rằng không phải thương nhân. Quyền lựa chọn Luật Thương mại có được áp dụng hay không trong trường hợp này thuộc về bên không phải thương nhân.

Luật Thương mại là luật riêng có của Việt Nam, do đó với những quan hệ có yếu tố nước ngoài, Luật Thương mại không được quyền đương nhiên áp dụng. Các bên trong giao dịch thươngmại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Tùy theo thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng của các bên mà Luật Thương mại có thể được áp dụng.

 Khi nào ap dụng Bộ luật Dân sự?

 Trước hết, mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại là mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng. Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Dân sự thì quan hệ dân sự bao gồm cả quan hệ kinh doanh, thương mại. Đồng thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại thì “hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự”. Các quy định này xác lập mối quan hệ luật chung, luật riêng giữa Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Do đó, trong những trường hơp Luật Thương mại chưa có quy định điều chỉnh, thì Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng.

Viện dẫn nguyên tắc này, trong trường hợp “Bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi” trong trường hợp được đề cập bên trên lựa chọn không áp dụng Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng.

Tùy từng trường hợp cụ thể mà các Bộ luật Dân sự hoặc Luật Thương mại có thể được áp dụng. Nhằm tránh xảy ra tranh chấp từ những cách hiểu khác nhau, các bên trong hợp đồng cần phải tìm hiểu rõ quy định của pháp luật để có sự viện dẫn phù hợp.



Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

Ý kiến của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ

 


Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền có ý kiến với Cục sở hữu trí tuệ về quyền sở hữu công nghiệp, về việc cấp bằng hoặc không cấp bằng bảo hộ đối với đơn đó. Vậy ở thời điểm nào thì người thứ ba có quyền đưa ra ý kiến và Cục sẽ xử lý ý kiến đó như thế nào?

Thứ nhất, người thứ ba có quyền đưa ra ý kiến kể từ thời điểm đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp đến trước ngày ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Theo đó, ý kiến phải được lập thành văn bản và kèm theo các tài liệu hoặc trích dẫn nguồn thông tin để chứng minh. Cần lưu ý rằng, văn bản nêu ý kiến của người thứ ba cũng được coi là một nguồn thông tin cho quá trình xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.

Thứ hai, sau khi ý kiến của người thứ ba đã được nộp vào Cục, các trường hợp sau sẽ xảy ra:

·         Trong trường hợp xét thấy ý kiến của người thứ ba là có cơ sở, Cục Sở hữu trí tuệ thông báo về ý kiến đó cho người nộp đơn và ấn định thời hạn để người nộp đơn trả lời bằng văn bản. Sau khi nhận được ý kiến phản hồi của người nộp đơn, nếu xét thấy cần thiết, Cục Sở hữu trí tuệ thông báo về ý kiến phản hồi cho người thứ ba và ấn định thời hạn tối đa là 01 tháng kể từ ngày ra thông báo để người thứ ba trả lời bằng văn bản về ý kiến phản hồi đó. Sau thời hạn nói trên, Cục Sở hữu trí tuệ xử lý ý kiến của người nộp đơn và người thứ ba trên cơ sở chứng cứ, lập luận do các bên cung cấp và tài liệu có trong đơn. Người thứ ba cũng được thông báo về kết quả thẩm định đơn tương ứng.

·         Trong trường hợp xét thấy ý kiến của người thứ ba là không có cơ sở, Cục Sở hữu trí tuệ không phải thông báo về ý kiến đó cho người nộp đơn, nhưng phải thông báo cho người thứ ba về việc từ chối xem xét ý kiến, có nêu rõ lý do.

·         Trong trường hợp ý kiến của người thứ ba liên quan đến quyền đăng ký, nếu xét thấy không thể xác định ý kiến đó là có cơ sở hay không, Cục Sở hữu trí tuệ thông báo để người thứ ba nộp đơn khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo mà người thứ ba không gửi cho Cục Sở hữu trí tuệ bản sao thông báo thụ lý vụ án của Tòa án thì Cục Sở hữu trí tuệ coi như người thứ ba rút bỏ ý kiến và tiếp tục xử lý đơn như không có ý kiến của người thứ ba. Trường hợp Cục Sở hữu trí tuệ nhận được bản sao thông báo thụ lý vụ án của Tòa án của người thứ ba trong thời hạn nêu trên, Cục Sở hữu trí tuệ tạm dừng việc xử lý đơn để chờ kết quả giải quyết tranh chấp của Tòa án. Sau khi nhận được kết quả giải quyết của Tòa án, việc xử lý đơn sẽ được tiến hành phù hợp với kết quả đó.

Ngoài ra, trong quá trình xử lý nêu trên, Cục sở hữu trí tuệ có thể tổ chức đối thoại trực tiếp giữa người nộp đơn và người thứ ba để làm rõ hơn vấn đề có ý kiến phản đối nếu xét thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của cả hai bên.

Nếu quý khách cần thêm bất cứ thông tin hoặc có yêu cầu tư vấn liên quan đến sở hữu trí tuệ có thể liên lạc trực tiếp tới Công ty Luật để được hỗ trợ.




Thủ tục chuyển công ty khác tỉnh

  


Trước khi tiến hành các thủ tục chuyển đổi công ty sang tỉnh khác doanh nghiệp cần thực hiện các thủ tục với cơ quan thuế nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính cũ liên quan đến việc chuyển địa điểm theo qui định pháp luật về thuế, mục đích là để chốt thuế, thay đổi nội dung về đăng ký thuế…

Hồ sơ cần chuẩn bị:

1.      Thông báo thay đổi địa chỉ trụ sở chính, nội dung thông báo bao gồm:

·         Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh( trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);

·         Địa chỉ trụ sở chính dự định chuyển đến;

·         Họ, tên, chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác , địa chỉ thường trú và chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

2.      Bản sao hợp lệ điều lệ đã sửa đổi của doanh nghiệp

3.      Danh sách thành viên( đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên), danh sách cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài,người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức nước ngoài( công ty cổ phần), danh sách thành viên hợp danh( công ty hợp danh), danh sách người đại diện theo ủy quyền đối với công ty TNHH một thành viên,

4.      Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp về việc thay đổi địa chỉ trụ sở chính của chủ doanh nghiệp( doanh nghiệp tư nhân), của hội đồng thành viên(công ty TNHH 2 thành viên trở lên ), của đại hội đồng cổ đông( công ty cổ phần), của thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của chủ sở hữu công ty đối với công ty TNHH một thành viên.

5.      Bản gốc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký thuế( trước luật doanh nghiệp 2014 và đối với một số loại hình như chi nhánh, căn phòng đại diện…)

Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và giải quyết:

Cơ quan tiếp nhậ hồ sơ và giải quyết đối với việc chuyển trụ sở chính của doanh nghiệp là phòng đăng ký kinh doanh- sở kế hoạch và đầu tư nơi doanh nghiệp dự định đăng ký trụ sở mới.

Cách thức thực hiện:

·         Nộp trực tiếp tại phòng đăng ký kinh doanh

·         Thông qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia

Trình tự thực hiện:

Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo qui định

Bước 2: Doanh nghiệp đến nộp hồ sơ tại phòng đăng ký kinh doanh, đóng lệ phí, chờ lấy giấy biên nhận

Bước 3: Phòng đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, tiến hành giải quyết hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì ra thông báo cho doanh nghiệp biết lý do để bổ sung, chỉnh sửa.

Bước 4:  Đến nhận kết quả tại phòng đăng ký kinh doanh theo thời gian ghi trong giấy hẹn.

Kết quả thực hiện:

1.      Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì doanh nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và gửi thông tin đến phòng đăng ký kinh doanh trước đây doanh nghiệp đã đăng ký

2.      Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì doanh nghiệp nhận được thông báo của phòng đăng ký kinh doanh về việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ

Căn cứ pháp lý:

·         Luật doanh nghiệp 2014

·         Nghị định 78/2015/ NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp

·         Công văn 4211/BKHĐT-ĐKKD năm 2015 hướng dẫn áp dụng qui định về đăng ký doanh nghiệp do Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Doanh nghiệp phải công bố thông tin gì khi thành lập?

 



 
Quy định về công bố thông tin doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và được sửa đổi bởi Nghị định 108/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

Doanh nghiệp sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục và phải trả phí theo quy định. Việc đề nghị công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp là thủ tục bắt buộc, được thực hiện tại thời điểm doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Thông tin công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Nội dung công bố bao gồm các nội dung trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và ngành, nghề kinh doanh. Ngoài ra, đối với công ty cổ phần có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài, cần công bố danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài. Trường hợp thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, những thay đổi tương ứng phải được thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Quy định về hình thức, thời gian và nội dung công bố khác so với quy định tại Luật doanh nghiệp 2005, cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Doanh nghiệp 2005, trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải công bố thông tin với một trong các hình thức đăng trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp. Nội dung công bố chủ yếu gồm: Tên doanh nghiệp; Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện; Ngành, nghề kinh doanh; Vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; số cổ phần và giá trị vốn cổ phần đã góp và số cổ phần được quyền phát hành đối với công ty cổ phần; vốn đầu tư ban đầu đối với doanh nghiệp tư nhân; vốn pháp định đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề đòi hỏi phải có vốn pháp định; Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của chủ sở hữu, của thành viên hoặc cổ đông sáng lập;  Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Nơi đăng ký kinh doanh.

Đối với phí công bố, theo quy định tại Thông tư 47/2019/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2019, lệ phí đăng ký doanh nghiệp, phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp là 100.000 đồng/lần , thay vì mức thu 300.000 đồng/lần như quy định tại Thông tư 215/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, có một số doanh nghiệp không cần thực hiện công bố thông tin doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động mà thực hiện công bố thông tin bằng hình thức khác. Chẳng hạn, đối với tổ chức hành nghề luật sư, trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, tổ chức hành nghề luật sư phải đăng báo hằng ngày của trung ương hoặc địa phương nơi đăng ký hoạt động hoặc báo chuyên ngành luật trong ba số liên tiếp. Đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng, phải công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và trên một tờ báo viết hằng ngày trong ba số liên tiếp hoặc báo điện tử của Việt Nam ít nhất ba mươi ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động.

 Ngoài công bố thông tin doanh nghiệp, còn có thủ tục công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được áp dụng đối với công ty đại chúng, tổ chức phát hành trái phiếu (ngoại trừ tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương), công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam, quỹ đại chúng. Các công ty, tổ chức này phải thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán tại Luật chứng khoán quy định chi tiết về công bố thông tin, công bố trên trang thông tin điện tử (website) của công ty và hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Trên đây là quy định pháp luật về công bố thông tin doanh nghiệp, doanh nghiệp cần chú ý để thực hiện theo đúng quy định pháp luật trước khi đi vào hoạt động chính thức. Nếu có bất cứ thắc mắc nào về thủ tục thành lập doanh nghiệp vui lòng liên hệ với công ty luật để được hỗ trợ. 

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

Những hoạt động nào được cho phép khi thực hiện cách ly xã hội theo Chỉ thị 16?

 


 Ngày 31 tháng 03 năm 2020, Thủ tướng Việt Nam ban hành chỉ thị để thực hiện một số biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn và kiểm soát dịch Covid-19. Việc cách ly xã hội là chưa có tiền lệ, và chủ yếu dựa trên sự tự giác tuân của mỗi người dân. Theo đó, việc cách ly xã hội được thực hiện tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 1 tháng 04 đến ngày 15 tháng 04 năm 2020. Điều này không cấm đi ra ngoài, nhưng nó đề nghị người dân chỉ nên đi ra ngoài trong một số trường hợp cần thiết trên thực tế như mua thực phẩm, nhiên liệu, thuốc và những trường hợp khẩn cấp khác. Các cơ quan nhà nước sẽ làm việc tại nhà, những doanh nghiệp tư nhân cũng được đề nghị để mọi người làm việc tại nhà. Những doanh nghiệp kinh doanh được phép mở để cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thiết yếu. Đối với những nhà máy sản xuất và văn phòng cần phải làm việc thì tiếp tục thực hiện sản xuất hoặc kinh doanh, nhưng cần phải đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn như không tập trung quá hai người, giữ khoảng cách tối thiểu 2m, luôn luôn sử dụng khẩu trang, làm sạch tay thường xuyên và khử trùng nơi làm việc.

Từ khía cạnh pháp lý, sẽ có nhiều vấn đề tiêu cực không lường trước được và nhiều hậu quả pháp lý xảy ra trong việc tranh chấp về quan hệ lao động, tranh chấp trong thực hiện hợp đồng, tranh chấp trong giao dịch kinh doanh, tranh chấp giữa các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền… phát sinh do việc mâu thuẫn do cách ly xã hội. Có ý kiến cho rằng các bên tham khảo các hợp đồng, quy định và chuẩn bị cho các tình huống thích hợp. Trong trường hợp này, các bên tranh chấp cân nhắc để đàm phán nhằm đạt được những thỏa thuận chung và cân nhắc tầm quan trọng của các quy định pháp luật và an toàn, hơn là những rủi ro trong kinh doanh gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu không đạt được thỏa thuận, các luật sư giải quyết tranh chấp sẽ là lựa chọn phù hợp để tham khảo ý kiến giải quyết.


Những lợi thế thu hút FDI của Việt Nam trong năm 2021

 


 Trong năm 2020, do ảnh hưởng của dịch covid-19, chuỗi cung ứng toàn cầu đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã kéo theo việc dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc diễn ra nhanh chóng. Trong đó, có bốn lĩnh vực mà các tập đoàn có xu hướng dịch chuyển sang Việt Nam, thành lập công ty, xin giấy phép đầu tư là công nghệ thông tin và công nghệ cao, thiết bị điện tử, thương mại điện tử và logistics, hàng tiêu dùng và bán lẻ.

Một số doanh nghiệp lớn trên thế giới bắt đầu tuyển dụng, tìm kiếm chuỗi cung ứng, và Việt Nam là một trong những điểm đến trong quá trình dịch chuyển bên cạnh các quốc gia khác trong khu vực như Indonesia, Thailand hay Malaysia.

Việt Nam với lợi thế ở gần Trung Quốc, thuận lợi cho việc dịch chuyển đầu tư, máy móc thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, việc có các chính sách thu hút FDI từ Việt Nam sẽ khiến cho các nhà đầu tư quốc tế dễ dàng trong việc thực hiện dịch chuyển đầu tư.

Đồng thời, Việt Nam cũng tham gia nhiều các Hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới sẽ giúp cho việc hợp tác trở nên thuận lợi hơn. Ngoài ra, việc ổn định trong giá trị đồng Việt Nam cũng là một điểm mạnh thu hút đầu tư quốc tế.

Dữ liệu của các hãng môi giới bất động sản công nghiệp so sánh tỷ lệ lấp đầy và giá thuê các khu công nghiệp ở các nước Đông Nam Á trong quý 1 vừa qua cho thấy Việt Nam có mức giá thuê trung bình thấp hơn 45-50% so với các nước Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Theo báo cáo của năm 2019, chi phí lao động của Việt Nam cũng thấp hơn so với Thái Lan, Malaysia và Indonesia, bên cạnh đó, nguồn lao động tại Việt Nam ngày càng dồi dào và chất lượng lao động ngày càng tăng.

Về giá điện, theo EVN, so sánh giá điện năm 2019 của Việt Nam so với các nước trong khu vực được thống kê cho thấy, giá điện của Việt Nam đạt mức 80% so với giá điện của Indonesia; 42,1% so với giá điện của Philippine và 66,7% so với giá điện của Campuchia.

Ngoài ra, với việc áp dụng các chính sách hỗ trợ như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, hỗ trợ thuê đất, cung ứng nguồn lao động cùng với việc giảm bớt các thủ tục hành chính, Việt Nam xứng đáng trở thành điểm đến đầu tư lý tưởng hiện nay.


Thứ Hai, 3 tháng 5, 2021

Vai trò của hợp đồng lao động trong hoạt động quản trị doanh nghiệp

  




Bất kì hoạt động quản lý nào, dù là quản lý nói chung hay quản lý lao động nói riêng muốn thực hiện được thì chủ thể quản lý đều phải thiết lập các công cụ, phương tiện để quản lý. Trong lĩnh vực luật lao động, chủ thể có quyền quản lý người lao động (sau đây gọi chung là “NLĐ”) bao gồm nhà nước và người sử dụng lao động (sau đây gọi chung là “NSDLĐ”). Song, nếu Nhà nước thiết lập công cụ quản lý lao động bằng hệ thống pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì NSDLĐ có quyền thiết lập các công cụ quản lý lao động phù hợp với điều kiện cụ thể  trong đơn vị của mình trên cơ sở quy định của pháp luật. Công cụ quản lý lao động của NSDLĐ bao gồm các văn bản do NSDLĐ đơn phương ban hành như nội quy lao động, quy chế, quyết định và các văn bản được thiết lập dựa trên cơ sở thoả thuận với bên NLĐ, tập thể lao động như thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và các thoả thuận khác.

Hợp đồng lao động là một trong những công cụ quản lý lao động hữu hiệu trong doanh nghiệp. Là sự thoả thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Chính do yếu tố quản lý lao động trong hợp đồng lao động nên để duy trì, ổn định quan hệ lao động và bảo vệ lợi ích của cả hai bên, nhất là lợi ích của NLĐ, pháp luật lao động hiện hành đã giới hạn quyền quản lý lao động của NSDLĐ trong hợp đồng lao động. Theo đó, các vấn đề về nội dung, hình thức, thời hạn, nguyên tắc ký kết, thời giờ làm việc, tiền lương, bảo hiểm, các trường hợp thay đổi, tạm hoãn hoặc chấm dứt,… được quy định cụ thể nhưng rải rác ở rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Có thể thấy vai trò quan trọng của hợp đồng lao động thể hiện ở:

– Hợp đồng lao động ghi nhận những cam kết làm cơ sở cho việc thực hiện và đảm bảo các quyền, nghĩa vụ của các bên, thể hiện ý chí của các bên, sự bình đẳng, tự do của NLĐ và NSDLĐ trong quá trình xác lập và duy trì mối quan hệ lao động.

– Hợp đồng lao động là cơ sở để NSDLĐ thực hiện quyền quản lý lao động. Khi đã giao kết hợp đồng lao động NLĐ đã trở thành người bị quản lý. Chỉ có thiết lập quan hệ dựa trên hợp đồng lao động thì NSDLĐ mới có được quyền quản lý đó.

– Hợp đồng lao động là cơ sở để giải quyết các chế độ liên quan đến NLĐ, đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội, bởi vì các yếu tố về tiền lương thể hiện trong hợp đồng lao động là điều kiện quan trọng để xác định mức đóng bảo hiểm xã hội của NLĐ và được sử dụng như là cơ sở căn bản để tính toán mức đóng và mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của NLĐ.

– Hợp đồng lao động là cơ sở để giải quyết các tranh chấp giữa hai bên trong quan hệ lao động. Đặc biệt, hợp đồng lao động bằng văn bản vừa đóng vai trò là chứng cứ chứng minh, vừa đóng vai trò là “quy phạm” để giải quyết các vụ việc tranh chấp.

Có vai trò rất quan trọng nhưng thực tế, ở hầu hết các doanh nghiệp, các nội dung trong hợp đồng lao động về mức lương, hình thức trả lương, chế độ nâng lương, nâng bậc lương, đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội,… đều ghi chung chung “theo quy định của pháp luật hiện hành” hoặc “theo quy định của công ty”, các nội dung về phụ cấp lương, tiền thưởng, các khoản bổ sung khác đều ghi “đã tính vào lương”. Nội dung công việc phải làm ghi “theo sự phân công của trưởng bộ phận” hoặc “theo nghề nghiệp của công nhân”,…

Khi các quy định của pháp luật đều ở mức tối thiểu về quyền lợi, tối đa về nghĩa vụ thì quyền, lợi ích, nghĩa vụ cụ thể của NLĐ trong  hợp đồng lao động hoàn toàn do NSDLĐ quyết định. Khác với lĩnh vực dân sự, luật lao động có những nguyên tắc riêng, nên mặc dù hợp đồng lao động được ghi nhận là sự thỏa thuận giữa các bên liên quan, nhưng những thỏa thuận này đều có những giới hạn nhất định mà các bên không được vượt quá được quy định trong các văn bản luật và dưới luật. Điều đó đã thể hiện sự can thiệp của các nhà nước vào quyền và trách nhiệm của NSDLĐ trong quá trình ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động. Hay nói cách khác, khung pháp lý cho sự thoả thuận các nội dung trong hợp đồng lao động rõ ràng là hẹp hơn rất nhiều so với khung pháp lý cho sự thoả thuận các nội dung trong hợp đồng dân sự. Điều đó lí giải tại sao ra đời trên cơ sở thoả thuận mang tính cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ về quyền và nghĩa vụ của hai bên, song pháp luật lao động lại quy định khá cụ thể các vấn đề pháp lý về hợp đồng lao động so với các văn bản nội bộ khác như thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế, quyết định.

Do đó, để có một bản hợp đồng lao động đầy đủ các nội dung, phù hợp và thiết thực với mô hình của chính doanh nghiệp thì không phải doanh nghiệp nào cũng đủ am hiểu để có thể tự mình soạn được một bản hợp đồng lao động được pháp luật cho phép. Việc soạn thảo hợp đồng lao động đòi hỏi rất nhiều kỹ năng cùng những hiểu biết chuyên sâu về các quy định pháp luật có liên quan, không những phải đảm bảo được lợi ích của các bên mà còn phải dự kiến được những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai để từ đó có thể điều chỉnh các điều khoản hợp đồng cân bằng giữa hoàn cảnh thực tiễn và quy định của pháp luật.