CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

Thời Hiệu Yêu Cầu Chia Di Sản Thừa Kế Là Bao Lâu ?

Khai nhận di sản thừa kế ở đâu? Hồ sơ khai nhận di sản thừa kế? Trình tự, thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật hiện nay? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế?

Di sản thừa kế được hiểu là tài sản thuộc sở hữu của một người khi chết để lại và bản chất của việc chia thừa kế là việc dịch chuyển tài sản đó sang cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật. Việc phân chia di sản thừa kế không bao giờ là dễ dàng vì thường xuyên có rất nhiều mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ vấn đề này.

Thứ hai, về hồ sơ khai nhận di sản thừa kế.Thứ nhất, về địa điểm khai nhận thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại tài sản chết. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người có di sản, có thể là nơi người đó đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người đó. Sau khi người có tài sản chết thì phải làm thủ tục khai tử cho người đó tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và tiến hành mở thừa kế.
Việc khai nhận di sản được tiến hành bởi những người được hưởng thừa kế, có thể là thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Khi làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế, người có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế chuẩn bị các giấy tờ sau: Một là, giấy chứng tử. Hai là, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu hoặc hộ chiếu còn hiệu lực của người nhận thừa kế. Ba là, giấy tờ, tài liệu chứng minh tài sản của người để lại di sản. Trường hợp người chết có để lại di chúc thì cần mang theo cả di chúc để thực hiện khai nhận di sản.
Thứ ba, về trình tự, thủ tục khai nhận di sản thừa kế.
Trước hết, người có yêu cầu cần mang hồ sơ nộp tại văn phòng công chứng để công chứng viên ra thông báo về việc khai nhận di sản. Thông báo sẽ được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người để lại di sản cư trú cuối cùng trong thời hạn 15 ngày. Nếu sau thời gian niêm yết không có tranh chấp hay khiếu nại, người được hưởng di sản tiến hành khai nhận di sản tại phòng công chứng.
Thứ tư, về thời hiệu yêu cầu chia thừa kế
Bộ luật Dân sự đã quy định rõ ràng thời hiệu đối với việc yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Trong thời hạn đó, những người thừa kế có quyền thỏa thuận chia di sản hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản. Trường hợp hết thời hạn theo quy định mà những người thừa kế không yêu cầu chia di sản, thì di sản sẽ thuộc quyền sở hữu của người thừa kế đang quản lý di sản đó theo Điều 616 Bộ luật dân sự.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về việc khai nhận di sản thừa kế, có ghi nhận cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục. Nếu bạn còn bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ soạn di chúc, biên bản thỏa thuận phân chia di sản, khai nhận di sản thừa kế.

Nguồn : Luatsu1900




Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

Điều Chỉnh Hợp Đồng Khi Gặp Khó Khăn

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, sự giao lưu, ký kết các hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng quốc tế ngày càng đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong khi thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp cũng có thể gặp một số rủi ro từ thiên nhiên, suy thoái kinh tế, xã hội,… đây là những rủi ro khó tránh khỏi, có thể đẩy doanh nghiệp vào hoàn cảnh khó khăn, khó thực hiện được hợp đồng trên thực tế.

Bộ luật dân sự 2015 đã có quy định về “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” tại Điều 420, theo đó, các bên có thể điều chỉnh hợp đồng khi có sự thay đổi sau:i) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
iv) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
v) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý; Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:
i) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;
ii) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Việc điều chỉnh hợp đồng khi gặp hoàn cảnh khó khăn còn rất mới đối với các doanh nghiệp trong nước và chưa được các áp dụng rộng rãi, tuy nhiên trong luật quốc tế, các điều khoản này đã được quy định từ lâu. Vì vậy, nên khi thực hiện ký hợp đồng, các doanh nghiệp cần chú ý thêm điểu khoản điều chỉnh hợp đồng khi gặp khó khăn, để có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Việc bổ sung điều khoản này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện hợp đồng khi có những sự kiện bất khả kháng xảy ra, giúp hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp.

Các bài viết liên quan : 


Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

Hết Thời Hạn Tạm Ngừng Kinh Doanh Nhưng Chưa Hoạt Động Lại Thì Có Bị Phạt Không ?

Tạm ngừng kinh doanh là gì? Thời hạn tạm ngừng kinh doanh là bao lâu? Đã hết thời hạn tạm ngừng kinh doanh nhưng chưa hoạt động lại thì có bị phạt không? 

Tạm ngừng kinh doanh là một trong các quyền của doanh nghiệp khi mà có vấn đề xảy ra trong mô hình hoạt động của họ hoặc là do chuyện làm ăn, kinh doanh không hiệu quả. Theo quy định của pháp luật thì khi tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải gửi thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đã đăng ký chậm nhất 15 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh.
Theo quy định tại Điều 57 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp có quyền tạm ngừng kinh doanh trong thời hạn không quá 01 năm. Sau khi hết thời hạn đã thông báo, nếu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh vẫn tiếp tục tạm ngừng kinh doanh thì phải thông báo tiếp cho Phòng Đăng ký kinh doanh. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá hai năm. Như vậy, thời hạn tối đa để doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 02 năm. Trường hợp quay lại hoạt động thì doanh nghiệp phải gửi Thông báo đến Phòng đăng ký kinh doanh chậm nhất là trước 15 ngày kể từ ngày quay lại hoạt động.
Nếu như có sự thay đổi về thời hạn tạm ngừng kinh doanh hoặc thời hạn quay lại hoạt động mà doanh nghiệp không thông báo hoặc thông báo không đúng đến cơ quan đăng ký kinh doanh thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, khi doanh nghiệm tạm ngừng kinh doanh mà không thông báo tạm ngừng hoạt động đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, khi hết thời hạn tạm ngừng kinh doanh mà doanh nghiệp vẫn không quay lại hoạt động thì có thể bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và bị xóa tên trên Cổng thông tin Đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Nếu đã bị thu hồi giấy chứng nhận mà lại tiếp tục hoạt động kinh doanh thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 50/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch đầu tư. Theo đó, tại điểm b khoản 4 Điều 28 Nghị định này quy định mức phạt tiền là từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nếu doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về thời hạn tạm ngừng kinh doanh cả doanh nghiệp cũng như mức xử phạt cho doanh nghiệp khi hết thời hạn tạm ngừng kinh doanh mà doanh nghiệp không quay lại hoạt động. 
Nếu bạn còn bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ soạn hồ sơ tạm ngừng hoạt động, tạm ngừng kinh doanh trên cơ sở có giấy ủy quyền.

Nguồn : Luatsu1900


Chuyển Giá Trong Kinh Doanh

Đối với mỗi doanh nghiệp, vấn đề làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt là vấn đề sống còn. Chuyển giá được xem như là biện pháp giúp tối đa hóa lợi nhuận, với nguyên tắc cơ bản là giúp doanh nghiệp giảm nghĩa vụ thuế, từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng.

Chuyển giá xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh. Theo đó, các chủ thể có quyền quyết định giá cả của một giao dịch, có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. Về mặt lý thuyết, chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá thị trường mà theo một mức giá thỏa thuận khác nhằm tối thiểu hóa số thuế của các tập đoàn hay của nhóm liên kết. Để thực hiện được các mục tiêu chuyển giá, doanh nghiệp thực hiện chuyển giá thông qua việc định giá khi nhập khẩu máy móc, thiết bị,… hay kê khai giá nguyên liệu đầu vào rất cao và kê khai giá bán thấp đồng thời tìm mọi cách khai tăng các chi phí khác (chi phí quảng cáo, khuyến mại) nhằm triệt tiêu lợi nhuận. Pháp luật luôn có quy định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là cách để các doanh nghiệp tránh thuế thu nhập doanh nghiệp tại nơi đăng ký hoạt động.
Để thực hiện chuyển giá cần có sự liên kết giữa các doanh nghiệp, công ty với nhau, dễ dàng nhất là các công ty con đặt tại nhiều nước khác nhau của một tập đoàn đa quốc gia. Do đó, chuyển giá thường hay được thực hiện trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài –  chủ thể hiện diện nhiều ở nhiều quốc gia, và việc các quốc gia khác nhau sẽ có các chính sách thuế khác nhau, dẫn đến mức thuế suất áp dụng cho thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau. Họ lợi dụng sự khác biệt thuế suất giữa các quốc gia, khu vực để trốn thuế. Tại Việt Nam thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%, tại Mỹ là 35%,… nhưng nhiều quốc gia khác như Panama, Hàn Quốc, Macau, Saint Lucia, Samoa, Tunisia,… là những thiên đường về thuế khi mức thuế thu nhập doanh nghiệp rất thấp hoặc thậm chí là 0%. Các doanh nghiệp này tự dàn xếp giá với nhau thông qua các giao dịch liên kết theo một trong những hình thức được đề cập như sau:
– Các doanh nghiệp nằm ở khu vực chịu thuế cao ký kết các hợp đồng mua bán nguyên vật liệu, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ… với vai trò là người mua, người sử dụng dịch vụ với các doanh nghiệp ở khu vực chịu thuế thấp. Bằng cách này, các doanh nghiệp ở khu vực có mức thuế cao luôn trong tình trạng lãi ít hoặc không có lãi để không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh thu sẽ được đẩy về các doanh nghiệp ở khu vực có mức thuế thấp.
– Hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lựa chọn một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới có mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp để làm địa điểm đặt trụ sở doanh nghiệp sau đó đầu tư vào Việt Nam. Công ty tại Việt Nam sẽ bán sản phẩm cho công ty mẹ tại các quốc gia này với giá bằng giá gốc để tránh nộp thuế tại Việt Nam. Sau đó, bên mua sẽ bán lại cho bên thứ ba thu lãi. Do thuế thu nhập doanh nghiệp tại những quốc gia nơi nhà đầu tư đăng ký đầu tư vào Việt Nam bằng 0%, hoặc ở mức rất thấp, nên doanh nghiệp không phải đóng thuế hoặc đóng thuế rất thấp.
Đây là những hành vi phổ biến nhất. Bởi với lợi thế nắm giữ phần vốn lớn tại các doanh nghiệp Việt Nam, bên liên kết nước ngoài có quyền định đoạt giá chuyển giao hàng hóa, nguyên liệu để chuyển được nhiều lợi nhuận trước thuế ra nước ngoài.
Chuyển giá hướng đến mục tiêu nhằm tối đa hóa lợi nhuận ở quốc gia đánh thuế thấp và tối thiểu hóa lợi nhuận ở những quốc gia đánh thuế cao. Thông qua các giao dịch liên kết này, các công ty trong nhóm cùng giảm được tổng nghĩa vụ thuế trên phạm vi toàn cầu, tăng được lợi nhuận sau thuế. Những doanh nghiệp sở hữu nhiều bản quyền sở hữu trí tuệ, như công nghệ hay dược phẩm, càng có cơ hội tiến hành chuyển giá vì việc định giá những giá trị phi vật chất này rất chủ quan và không có một tiêu chuẩn chung nào để định giá. Cách nhìn nhận khá phổ biến tại Việt Nam về chuyển giá là công cụ trốn thuế và hành vi vi phạm pháp luật. Hiện nay, vấn đề chuyển giá được điều chỉnh bởi Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết và Thông tư 41/2017/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Ký Qũy Của Doanh Nghiệp Bán Hàng Đa Cấp

Kinh doanh đa cấp là một hình thức bán lẻ hàng hóa thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau. Người tham gia vừa là thành viên của công ty, vừa là khách hàng. Họ sẽ hưởng lợi từ tiền hoa hồng của sản phẩm bán được của họ và những cấp dưới của họ. Kinh doanh đa cấp là hình thức kinh doanh hợp pháp ở Việt Nam. Thế nhưng, lợi dụng những kẽ hở của pháp luật, hình thức bán hàng đa cấp bất chính xuất hiện rất phổ biến. Hiện nay, Việt Nam cũng đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về việc kinh doanh đa cấp.

Để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp đối với người tham gia bán hàng đa cấp và Nhà nước, các tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải mở tài khoản ký quỹ và ký quỹ một khoản tiền tương đương 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn 10 tỷ đồng tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Đó là một trong những quy định tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Mức kỹ quỹ này được nâng cao hơn gấp đôi trước đây, và được quy định nộp bằng tiền mặt, không được bảo lãnh ngân hàng hoặc thế chấp bằng tài sản.
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ.
Để thực hiện quy định này, ngày 30/11/2018, Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư 29/2018/TT-NHNN hướng dẫn việc xác nhận, quản lý tiền ký quỹ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp có hiệu lực kể tử ngày 18/01/2019. Nhằm đảm bảo thống nhất với nội dung tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, Thông tư 29/2018/TT-NHNN tập trung hướng dẫn các nội dung: Thủ tục nộp tiền ký quỹ và xác nhận tiền ký quỹ của doanh nghiệp, quản lý tiền ký quỹ, lãi suất tiền gửi ký quỹ, thủ tục rút tiền ký quỹ, xử lý khoản tiền đã ký quỹ, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan,…
Tiền gửi ký quỹ cũng được hưởng lãi suất tiền ký quỹ do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng ký quỹ giữa doanh nghiệp và ngân hàng nhận ký quỹ đảm bảo phù hợp với quy định về lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ. Doanh nghiệp được rút tiền ký quỹ trong các trường hợp sau:
– Bộ Công Thương từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp;
– Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định 40/2018/NĐ-CP và đã hoàn thành các trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định này;
– Doanh nghiệp đã thực hiện ký quỹ đảm bảo cho ngành nghề kinh doanh bán hàng đa cấp tại một ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng khác.
Khi hàng hóa được bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng thông qua mạng lưới bán hàng đa cấp, thì nhà sản xuất không những tiết kiệm rất nhiều chi phí từ việc quảng cáo, khuyến mại, tiền kho bãi, vận chuyển hàng hóa,… mà còn được người tiêu dùng chia sẻ chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình đến nhiều người khác. Do tiết kiệm được các phí tổn từ đó nâng cao lợi nhuận của các doanh nghiệp đa cấp. Bán hàng đa cấp là một loại hình kinh doanh được hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới, được thâm nhập vào Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Nhưng tại Việt Nam hiện nay dễ bị lợi dụng biến tướng trở thành lừa đảo. Do đó, cần thiết phải có quy định chặt chẽ về ngành nghề kinh doanh này, nhằm bảo vệ người tham gia cũng như giám sát hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình bán hàng đa cấp.

Các tài liệu nên biết  : 



Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

Không Có Giấy Phép Kinh Doanh Sẽ Bị Xử Phạt Như Thế Nào ?

Giấy phép kinh doanh là gì? Có bắt buộc phải xin cấp giấy phép kinh doanh không? Nếu không có giấy phép kinh doanh thì bị phạt bao nhiêu tiền?

Giấy phép kinh doanh là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho cơ sở kinh doanh nhằm quản lý trật tự xã hội về điều kiện kinh danh. Tuy nhiên, không phải các cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại đều phải xin cấp giấy phép kinh doanh. Các trường hợp cần phải có giấy đăng ký kinh doanh nhưng không thực hiện xin cấp theo quy định của pháp luật thì sẽ bị xử phạt tùy từng mức độ cụ thể. 
Nghị định 39/2007/NĐ-CP đã nêu đầy đủ các trường hợp không phải đăng ký kinh doanh như: buôn bán rong, buôn bán vặt, bán quà vặt, buôn chuyến, đánh giày, bán vé số không có địa điểm cố định. Ngoài các trường hợp đó thì giấy phép kinh doanh là bắt buộc. Nếu không có giấy phép kinh doanh thì tổ chức kinh doanh sẽ bị xử phạt, cụ thể là Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính hành vi vi phạm về hoạt động kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Theo đó, hộ kinh doanh không có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Doanh nghiệp hoạt động mà không có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Trường hợp cơ sở kinh doanh vẫn cố tình hoạt động khi bị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. mức phạt sẽ tăng lên gấp đôi nếu kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Trước đây, khi Bộ luật hình sự 1999 còn hiệu lực có quy định Tội kinh doanh trái phép tại Điều 159. Theo đó, người nào kinh doanh mà không có giấy phép kinh doanh, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2018 Bộ luật hình sự 1999 chính thức hết hiệu lực thì Tội này cũng bị bãi bỏ và không có nội dung thay thế tương đương ở Bộ luật hiện hành. Như vậy, việc cơ sở kinh doanh không có giấy phép kinh doanh thì chỉ bị xử phạt hành chính về hành vi này và pháp luật cũng không có quy định về việc tịch thu công cụ, phương tiện kinh doanh nếu xảy ra vi phạm.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không có giấy phép kinh doanh của hộ gia đình, doanh nghiệp. Nếu bạn còn bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ xin cấp Giấy đăng ký kinh doanh, Giấy đăng ký doanh nghiệp.

Nguồn : Luatsu1900




Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019

Người Nhập Cảnh Được Mua Hàng Miễn Thuế

Ngày 19/7/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 44/2013/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế về kinh doanh bán hàng miễn thuế ban hành kèm theo Quyết định số 24/2009/QĐ-TTg. Cụ thể, có những thay đổi sau đây:

1. Sửa đổi Khoản 4 và bổ sung Khoản 5 Điều 1 như sau:
“4. Đồng tiền dùng trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế bao gồm:
a) Đồng Việt Nam;
b) Các đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
c) Đồng tiền của nước có chung biên giới ở các cửa hàng miễn thuế tại khu vực biên giới.
5. Việc nhập khẩu thuốc lá để kinh doanh bán hàng miễn thuế thực hiện theo giấy phép và hướng dẫn của Bộ Công Thương.”
2. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 3 như sau:
“1. Ở cửa khẩu quốc tế:
a) Địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế ở cửa khẩu quốc tế sân bay, cảng biển, đường bộ, đường sắt để phục vụ người xuất cảnh, quá cảnh (bao gồm cả người điều khiển và nhân viên phục vụ trên phương tiện vận chuyển xuất cảnh, quá cảnh) nằm trong khu cách ly và trong khu vực giám sát của cơ quan Hải quan;
b) Địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế ở cửa khẩu quốc tế sân bay để phục vụ người nhập cảnh (không bao gồm người điều khiển và nhân viên phục vụ trên phương tiện vận chuyển nhập cảnh) nằm trong khu vực quản lý, kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Hải quan.”
3. Bổ sung Khoản 5 Điều 5 như sau:
“5. Đối tượng và điều kiện được mua hàng miễn thuế là người nhập cảnh:
a) Người nhập cảnh ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh được mua hàng miễn thuế ngay tại cửa khẩu quốc tế sân bay nhập cảnh; không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực quản lý, kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Hải quan tại cửa khẩu quốc tế sân bay nhập cảnh;
b) Người nhập cảnh khi mua hàng miễn thuế phải xuất trình hộ chiếu có đóng dấu nhập cảnh, thẻ lên tàu bay – Boarding pass. Cửa hàng miễn thuế phải sao chụp lưu một trong những chứng từ này.”
4. Bổ sung Khoản 4 Điều 6 như sau:
“4. Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế theo định mức hành lý miễn thuế quy định tại Nghị định số 66/2002/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định về định mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế.”
Quy định mới đã bổ sung đối tượng “người nhập cảnh” cũng được phép mua hàng miễn thuế, so với quy định cũ chỉ quy định đối tượng được mua hàng miễn thuế gồm “người xuất cảnh, quá cảnh”.  Tuy nhiên, người nhập cảnh bị hạn chế hơn về quyền mua hàng miễn thuế, cụ thể: chỉ được mua mua hàng miễn thuế ngay tại cửa khẩu quốc tế sân bay nhập cảnh; không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực quản lý, kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Hải quan tại cửa khẩu quốc tế sân bay nhập cảnh;
Ngoài ra, quy định mới đã mở rộng hơn các đồng tiền được dùng trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế so với quy định cũ chỉ gồm đồng Việt Nam và các đồng ngoại tệ USD, EURO.
Các bài viết liên quan :