CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

Tranh Chấp Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Ở Việt Nam



  1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Có 3 biện pháp để giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đó là: Biện pháp hình sự; biện pháp dân sự và biện pháp hành chính.
Thông thường, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp bị xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử lý hành chính. Trong khi đó, ranh giới giữa biện pháp dân sự và biện pháp hành chính lại chưa thật sự rõ ràng, đặc biệt vấn đề những tranh chấp nào được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự và những tranh chấp nào được giải quyết bằng “con đường” hành chính. Hệ quả là, nhiều tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ lẽ ra phải được giải quyết theo thủ tụng tố tụng dân sự nhưng lại giải quyết theo thủ tục hành chính
Quy định không rõ ràng về thẩm quyền dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan, các cơ quan đôi khi thực hiện công việc không thuộc thẩm quyền của mình, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
  1. Người có quyền khởi kiện tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ
Do pháp luật không quy định ai có quyền khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, dẫn đến trong thực tế người có quyền khởi kiện đôi khi bỏ mất quyền khởi kiện hoặc người không có quyền khởi kiện lại khởi kiện nên không được Toà án giải quyết.
Nguyên đơn trong vụ án về quyền sở hữu trí tuệ có thể là tác giả, chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ hoặc một số người có quyền liên quan khác. Cụ thể như sau:
Đối với những tranh chấp về quyền tác giả, những người sau đây có quyền khởi kiện:
– Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;
– Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;
– Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả;
– Người được thừa kế của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;
– Người có quyền liên quan đến quyền tác giả, bao gồm: người biểu diễn; tổ chức sản xuất băng âm thanh, băng hình; tổ chức phát sóng;
– Người có quyền sử dụng hợp pháp tác phẩm thông qua hợp đồng sử dụng tác phẩm;
– Tổ chức, cá nhân được các chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của pháp luật.
Đối với tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp, những người sau đây có quyền khởi kiện:
– Tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng.
– Chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí mật kinh doanh.
– Người sử dụng hợp pháp tên gọi xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý.
– Người được thừa kế quyền sở hữu công nghiệp.
– Người có quyền sử dụng hợp pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp thông qua hợp đồng li-xăng.
– Người biểu diễn; tổ chức, cá nhân sản xuất băng ghi âm, ghi hình; tổ chức phát thanh, truyền hình.
– Tổ chức, cá nhân được các chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của pháp luật.
Trên đây là một số trường hợp tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, Hãy liên hệ với Công ty luật nếu quý khách hàng đang thắc mắc và gặp phải vấn đề này, chúng tôi sẽ hỗ trỡ quý khách hàng mộ cách nhanh chóng nhất

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2019

Thủ Tục Xin Visa Cho Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

Nhà đầu tư nước ngoài muốn vào Việt Nam thì phải chuẩn bị hồ sơ bao gồm những giấy tờ nào để được cấp visa?
 Trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này?

Việt Nam là nước đang trên đà phát triển, là quốc gia thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động. Các nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng được cấp visa thị thực hoặc thẻ tạm trú để phục vụ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Ký hiệu của thị thực dành cho đối tượng này là ĐT và có thời hạn là 05 năm.
Căn cứ Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và Thông tư 04/2015/TT-BCA, việc xin cấp visa cho nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện như sau:
Trước hết, nhà đầu tư phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định để có thể được cấp thị thực tại Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài phải có hộ chiếu còn hiệu lực hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế. Bên cạnh đó, nhà đầu tư phải có cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mời, bảo lãnh; không thuộc trường hợp chưa được phép nhập cảnh và phải có giấy tờ chứng minh việc đầu tư tại Việt Nam theo quy định của Luật đầu tư. Khi đáp ứng các điều kiện này, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được xem xét xin cấp thị thực ở Việt Nam.
Về hồ sơ, nhà đầu tư chuẩn bị 01 bộ hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau: Một là bản sao chứng thực giấy phép kinh doanh/giấy phép đầu tư. Hai là, giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu hoặc bản Thông báo về việc đăng tải thông tin về mẫu con dấu của doanh nghiệp trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Ba là, mẫu NA16 và NA05 ban hành kèm theo Thông tư 04/2015/TT-BCA. Bốn là hộ chiếu còn hiệu lực và cuối cùng là bản đăng ký tạm trú theo quy định.
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ nêu trên, nhà đầu tư nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền. Theo luật định thì cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp visa cho nhà đầu tư nước ngoài có thể là Cục quản lý xuất nhập cảnh hoặc tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở chính. Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ bao gồm các giấy tờ trên thì trong thời hạn 05 ngày làm việc nhà đầu tư sẽ được cấp visa.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về trình tự, thủ tục xin cấp visa cho nhà đầu tư nước ngoài, nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ xin visa đầu tư cho người nước ngoài.


Nguồn : luật sư 1900


Mở Công Ty Tại Mỹ Và Những Điều Cần Biết Khi Thành Lập Doanh Nghiệp Tại Mỹ

Quy trình và thủ tục mở công ty tại Mỹ như thế nào?

Việc mở công ty tại mỹ hoặc thành lập văn phòng nước ngoài tại Mỹ có điểm giống nhau cơ bản về thủ tục pháp lý, đều được xem là sự xuất hiện của một công ty nước ngoài trên đất Mỹ.

1.Quy trình và thủ tục để mở công ty tại Mỹ
Cơ quan quản lý: 
Tại Mỹ, mỗi tiểu bang có các luật khác nhau điều chỉnh về việc mở công ty cũng như thành lập văn phòng đại diện, ví dụ: ở Utah là Sở Thương mại, ở Washington DC là Văn phòng Phát triển Doanh nghiệp và Kinh tế và Ban Doanh nghiệp thuộc Bộ Bảo vệ người tiêu dùng, Bang Ohio là Văn phòng Bang, New york là Sở Ngoại giao.. sau đây tạm gọi chung là Sở Đăng ký doanh nghiệp (SĐK).
Giấy tờ:
Đầu tiên, để có thể được phép mở công ty tại Mỹ, trước hết người có nhu cầu phải có đầy đủ:
  • Giấy tờ mở công ty tại Việt Nam.
  • Điều lệ thành lập, danh sách cổ đông, sáng lập viên, giấy phép kinh doanh.
  • Các giấy tờ chức minh hoạt động kinh doanh tốt, không trái pháp luật, có hiệu quả do các ban ngành có uy tín cấp. (Mỗi bang có yêu cầu khác nhau về các giấy tờ này và việc công chứng giấy tờ).
Thứ hai là kê khai mẫu đơn xin mở công ty mà mỗi tiểu bang ở Mỹ đều có mẫu riêng của mình. Các công ty nước ngoài có thể thành lập các loại hình công ty như chi nhánh công ty nước ngoài, công ty con của công ty nước ngoài, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên danh, công ty liên danh TNHH v.v… tùy theo luật mỗi bang cho phép và tùy theo loại hình kinh doanh.
Tại một số tiểu bang của mỹ, việc mở một công ty mới, người thành lập có thể đăng ký giữ tên công ty của mình, trong các trường hợp công ty nhận thấy chưa tiếng hành hoạt động ngay được, tránh việc trùng tên.
Mở công ty tại Mỹ ở một bang mà muốn mở thêm công ty tại bang khác, thủ tục lại tuân theo như khi từ nước ngoài vào bang đó; tuy nhiên, thủ tục sẽ đơn giản hơn. Mở công ty Mỹ từ bang này muốn thành lập công ty chi nhánh tại một bang khác cũng có những luật lệ riêng áp dụng cho họ.
Sau khi có giấy phép thành lập thì một số ngành nghề còn phải đăng ký với những cơ quan quản lý chuyên ngành, ví dụ như kinh doanh dược phẩm, y tế v.v…Có thể cơ quan quản lý chuyên ngành cấp một giấy phép đăng ký kinh doanh và hành nghề luôn. Tiếp theo là đăng ký với sở thuế, mở tài khoản ngân hàng.
Thời gian cấp phép kể từ khi nhận hồ sơ hoàn chỉnh khoảng 30 ngày.
2.Xin Visa diện kinh doanh để nhập cảnh Mỹ khá phức tạp
Visa diện kinh doanh có thể cấp cho một năm, nhiều lần tuy nhiên việc gia hạn Visa tiếp tại Mỹ chưa có tiền lệ hoặc thỏa thuận cụ thể. Visa thông thường được xếp loại B1. Trong trường hợp đã mở công ty tại mỹ hoặc chi nhánh văn phòng tại Mỹ thì sẽ được cấp visa L1 có thời hạn 3 năm. Tuy nhiên, việc xin visa L1 cho lãnh đạo công ty, nhân viên vào Mỹ làm việc thường khó khăn hơn.

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2019

Điều Chỉnh Giấy Chứng Nhận Đầu Tư

Thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư như thế nào?


Việc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không phải là thủ tục bắt buộc. Khi có nhu cầu thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cụ thể theo Điều 33 Nghị định 18/2015/NĐ-CP bao gồm:
Trường hợp thay đổi tên dự án đầu tư, địa chỉ của nhà đầu tư hoặc thay đổi tên nhà đầu tư, nhà đầu tư nộp văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư cho Cơ quan đăng ký đầu tư kèm theo tài liệu liên quan đến việc thay đổi tên, địa chỉ của nhà đầu tư hoặc tên dự án đầu tư. Cơ quan đăng ký đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Trường hợp điều chỉnh địa điểm thực hiện dự án đầu tư, diện tích đất sử dụng; mục tiêu, quy mô dự án đầu tư; vốn đầu tư của dự án, tiến độ góp vốn và huy động các nguồn vốn; thời hạn hoạt động của dự án; tiến độ thực hiện dự án đầu tư; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư (nếu có) và các điều kiện đối với nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư (nếu có), nhà đầu tư nộp 01 bộ hồ sơ cho Cơ quan đăng ký đầu tư.
Việc không tiến hành điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư khi có những thay đổi về thông tin nhà đầu tư, dự án đầu tư có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện hoạt động đầu tư theo đúng nội dung trong hồ sơ đăng ký đầu tư (đối với trường hợp không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư) hoặc Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Quyết định chủ trương đầu tư;
Trường hợp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, việc không không tuân thủ quy định về thời hạn đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bị xử lý như sau:
  • Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quá thời hạn quy định từ 01 đến 30 ngày.
  • Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quá thời hạn quy định từ 31 đến 90 ngày.
  •  Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quá thời hạn quy định từ 91 ngày trở lên.
  • Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký thay đổi các nội dung Giấy chứng nhận doanh nghiệp theo quy định đối với hành vi vi phạm này.
Nguồn : http://www.antlawyers.com/dieu-chinh-giay-chung-nhan-dau-tu/

Hủy Bỏ Nhãn Hiệu Tại Việt Nam

Muốn hủy bỏ nhãn hiệu tại Việt Nam cần những gì?


Nhãn hiệu là tài sản vô giá giúp phân biệt các sản phẩm dịch vụ cùng loại giữa các tổ chức, cá nhân khác nhau. Các doanh nghiệp thường phải mất một thời gian dài để gây dựng sự tín nhiệm của khách hàng với sản phẩm, dịch vụ và nhãn hiệu của mình. Tuy nhiên, thực tế trên thị trường có thể xuất hiện nhiều nhãn hiệu giống hoặc ương tự làm khách hàng nhầm lẫn, điều này dẫn nhiều thiệt hại cả về uy tín và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Các nhãn hiệu này có thể đã hoặc đang trong quá trình đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, doanh nghiệp hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước huỷ bỏ hoặc từ chối cấp bảo hộ nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn.
ANT Lawyers là tổ chức đại diện  đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận. Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cùng độ ngũ chuyên gia IP giàu kinh nghiêm, ANT lawyers sẽ hỗ trợ quý khách hàng yêu cầu hủy nhãn hiệu gây nhầm lẫn như sau:
 Hủy nhãn hiệu tại Việt Nam
  • Theo Điều 96 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, giấy chứng nhận nhãn hiệu có thể bị hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ theo yêu cầu hợp pháp của bên thứ ba/
  • Người yêu cầu có thể gửi văn bản tới Cục sở hữu trí tuệ yêu cầu hủy nhãn hiệu theo các trường hợp được quy định theo luật với điều kiện phải nộp phí và lệ phí.
Các trường hợp hủy bỏ nhãn hiệu
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có thể hủy một phần hoặc toàn bộ bởi yêu cầu của bất kỳ bên thứ ba nào trong các trường hợp sau:
  • Người nộp đơn đăng ký không Người yêu cầu đăng ký không có hoặc không được chuyển nhượng quyền đăng ký nhãn hiệu;
  • Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm văn bằng bảo hộ được cấp.
Tài liệu cần cung cấp
  • Bằng chứng về việc nhãn hiệu giống hoặc tương tự gây nhầm lẫn;
  • Giấy ủy quyền;
  • Văn bản giải thích lý do yêu cầu (ghi rõ số thứ tự của văn bằng bảo hộ, lý do, căn cứ pháp lý, nội dung yêu cầu chấm dứt hoặc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bằng bảo hộ) và các tài liệu liên quan.
Thời gian và thủ tục
Trong trường hợp yêu cầu huỷ bỏ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được thực hiện bởi bên thứ ba, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thông báo bằng văn bản ý kiến ​​của bên thứ ba cho chủ văn bằng bảo hộ và gia hạn thời gian hai tháng kể từ ngày thông báo về văn bằng bảo hộ nhãn hiệu để Chủ sở hữu phản hồi.
Sau khi xem xét ý kiến của các bên, Cục sở hữu trí tuệ sẽ ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ hoặc từ chối hủy văn bằng bảo hộ nhãn hiệu
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu của Cục sở hữu trí tuệ, bên yêu cầu hoặc các bên liên quan có thể khiếu nại vè quyết định hoặc thông báo đó.
Quyết định hủy bảo hộ nhãn hiệu sẽ được công bố tại Cổng thông tin Sở hữu trí tuệ và được ghi nhận tại Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu trí tuệ trong vòng 2 tháng kể từ ngày ký
Nguồn : http://www.antlawyers.com/huy-bo-nhan-hieu-tai-viet-nam/

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2019

Biển Hiệu Của Doanh Nghiệp Phải Treo Như Thế Nào ?

Biển hiệu là gì? Pháp luật quy định như thế nào về việc đặt biển hiệu của doanh nghiệp? Việc treo biển hiệu của doanh nghiệp phải chú ý những gì?

Biển hiệu là một phần quan trọng không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp, góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường. Biển hiệu ghi nhận tên doanh nghiệp, địa chỉ, số điện thoại liên hệ để tiện cho việc giao dịch, kinh doanh, quảng cáo nói chung. Biển hiệu của doanh nghiệp được pháp luật điều chỉnh rất chặt chẽ vầ cả mặt mỹ quan, vị trí đặt biển và nội dung ghi trên biển hiệu.

1. Các hình thức của biển hiệu
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc viết, đặt, treo, dán, dựng, lắp biển hiệu, sau đây gọi chung là viết, đặt biển hiệu, tại trụ sở, nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau: Bảng; biển; hộp đèn; hệ thống đèn néon uốn chữ (neonsight) hoặc các hình thức khác.

2. Mỹ quan, chữ viết, vị trí, nội dung biển hiệu
Thứ nhất là yêu cầu về mỹ quan: Biển hiệu là một trong các hình thức đại diện cho doanh nghiệp, chính vì vậy việc bảo đảm mỹ quan là vô cùng cần thiết. Biển hiệu bắt buộc phải viết bằng chữ Việt Nam trường hợp doanh nghiệp muốn thể hiện tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế hoặc tên, chữ nước ngoài thì phải ghi ở phía dưới, lưu ý là kích thước của chúng phải nhỏ hơn phần chữ viết bằng tiếng Việt Nam.
Thứ hai là về vị trí đặt biển hiệu: Biển hiệu chỉ được viết, đặt sát cổng, hoặc mặt trước của trụ sở hoặc nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân. Pháp luật quy định đối với mỗi cơ quan, tổ chức chỉ được viết, đặt một biển hiệu tại cổng; tại trụ sở hoặc nơi kinh doanh độc lập với tổ chức, cá nhân khác chỉ viết, đặt một biển hiệu ngang và không quá hai biển hiệu dọc.
Thứ ba là về nội dung của biển hiệu: Thông thường, mỗi biển hiệu đều thể hiện các nội dung như tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu có). Cơ quan chủ quản trực tiếp được hiểu là cơ quan cấp trên trực tiếp quyết định về tổ chức, nhân sự, ngân sách hoặc giải quyết các chế độ, chính sách cho cơ quan, tổ chức viết, đặt biển hiệu. 
Biển hiệu phải thể hiện tên gọi đầy đủ bằng chữ Việt Nam đúng với quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp. Ngoài ra, trên biển hiệu còn chưa đựng các thông tin như: Loại hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã; ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính (đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ); địa chỉ giao dịch, số điện thoại (nếu có). Trên biển hiệu được thể hiện biểu tượng (logo) đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, diện tích logo không quá 20% diện tích biển hiệu, không được thể hiện thông tin, hình ảnh quảng cáo cho bất cứ loại hàng hóa, dịch vụ nào. 
3. Mức xử lý vi phạm
Nghị định 158/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo quy định việc xử phạt những vi phạm biển hiệu như sau:
Doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu vi phạm một trong các hành vi sau đây: Không thể hiện đầy đủ trên biển hiệu tên cơ quan chủ quản trực tiếp; tên cơ sở sản xuất kinh doanh theo đúng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ, điện thoại; Sử dụng biển hiệu có kích thước không đúng theo quy định.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nếu ghi không đúng hoặc ghi không đầy đủ tên gọi bằng tiếng Việt trên biển hiệu; không viết bằng chữ tiếng Việt mà chỉ viết bằng chữ tiếng nước ngoài trên biển hiệu hay viết tên riêng, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài ở phía trên tên bằng chữ tiếng Việt trên biển hiệu; thể hiện tên gọi, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài có khổ chữ quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt trên biển hiệu hoặc là đặt chiều cao của biển hiệu dọc vượt quá chiều cao của tầng nhà nơi đặt biển hiệu.
Mức phạt sẽ là 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu doanh nghiệp treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu che chắn không gian thoát hiểm, cứu hỏa, lấn ra vỉa hè, lòng đường, ảnh hưởng đến giao thông công cộng hoặc việc treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu làm mất mỹ quan.
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi, nếu còn bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ thành lập doanh nghiệp.


Nguồn : Luật sư 1900


Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Trái Phiếu Doanh Nghiệp

Phát hành trái phiếu là một trong các kênh huy động vốn bên cạnh vay vốn ngân hàng, phát hành cổ phiếu,… Tuy nhiên có một thực tế là phát hành trái phiếu chỉ được các doanh nghiệp nước ngoài và được Chính phủ và một số doanh nghiệp có quy mô vốn lớn sử dụng. Do đó, thị trường trái phiếu Việt Nam chủ yếu là trái phiếu của Chính phủ. Cho đến nay, phần lớn các doanh nghiệp đang coi tín dụng ngân hàng là kênh huy động vốn chính mà chưa quan tâm và coi trái phiếu doanh nghiệp cũng là một kênh huy động vốn rất lớn cho doanh nghiệp. Gần đây, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã được xây dựng và đang có những bước phát triển, Nghị định 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp được ban hành và có hiệu lực kể từ 01/02/2019 được mong đợi rằng sẽ góp phần thúc đấy thị trường trái phiếu phát triển song hành cùng thị trường cổ phiếu.

Nghị định này quy định việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp theo hình thức riêng lẻ trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam và việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế. Còn hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng vẫn được thực hiện theo quy định của Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn.
Nghị định 163/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định 90/2011/NĐ-CP quy định mới nới lỏng điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp, theo quy định tại Nghị định 90/2011/NĐ-CP, doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ phải có kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh năm trước liền kề của năm phát hành có lãi. Đây là quy định rào cản thực sự với các doanh nghiệp đang gặp khó khăn và muốn sử dụng trái phiếu như một công cụ để tái cấu trúc. Thay vì yêu cầu doanh nghiệp phải có lãi, Nghị định 163/2018/NĐ-CP yêu cầu doanh nghiệp chỉ cần có báo cáo tài chính kiểm toán năm liền trước của năm phát hành được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện theo quy định (Điểm c Khoản 1 Điều 10).
Một điểm quan trọng nữa tại Nghị định 163/2018/NĐ-CP đó là doanh nghiệp phát hành được mua lại trái phiếu trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu ngoài cơ cấu lại nợ còn được giảm nợ (Điều 7) mà không có ràng buộc về điều kiện thời gian phát hành. Thực tế, vấn đề mua lại trái phiếu trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu nhằm giảm nghĩa vụ nợ cũng đã được quy định tại Thông tư 99/2015/TT-BTC hướng dẫn về phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành. Tuy nhiên,  đối tượng áp dụng Thông tư này chỉ gồm doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của nhà nước và tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện việc phát hành trái phiếu được bảo lãnh; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc phát hành trái phiếu được bảo lãnh, do đó quy định tại Nghị định 163/2018/NĐ-CP sẽ không bị hạn chế đối tượng doanh nghiệp được áp dụng.
Bên cạnh những quy định tạo điều kiện hơn thì Nghị định 163/2018/NĐ-CP cũng yêu cầu chặt chẽ hơn đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Đó là, doanh nghiệp muốn phát hành riêng lẻ trái phiếu phải có lịch sử thanh toán gốc và lãi trái phiếu đã phát hành trong 3 năm liên tiếp trước đó đầy đủ (nếu có) (Điểm e Khoản 1 Điều 10), trong khi ở Nghị định cũ không quy định điều này. Về việc công bố thông tin, Nghị định mới yêu cầu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ trái phiếu phải chấp hành quy định về công bố thông tin trước và sau phát hành; công bố thông tin định kỳ, thông tin bất thường; công bố thông tin của doanh nghiệp về trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm theo chứng quyền, mua lại trái phiếu trước hạn, hoán đổi trái phiếu. Nghĩa vụ công bố thông tin được yêu cầu chặt chẽ hơn hẳn so với quy định trước đây (Chương IV Nghị định 163/2018/NĐ-CP)
Bên cạnh đó, Nghị định 163/2018/NĐ-CP cũng giới hạn thời gian được phép chuyển nhượng trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền phát hành kèm theo trái phiếu. Theo đó, loại trái phiếu này  không được chuyển nhượng trong tối thiểu 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành, trừ trường hợp chuyển nhượng cho hoặc chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật (Điểm đ Khoản 2 Điều 10). Thực tiễn cho thấy hoạt động chào bán riêng lẻ và hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng có quan hệ mật thiết với nhau, nhiều đợt chào bán chứng khoán riêng lẻ có thể dẫn đến chào bán ra công chúng; hoặc một đợt chào bán chứng khoán ra công chúng cũng có thể có chào bán chứng khoán riêng lẻ, khi các công ty đại chúng phát hành chứng khoán cho nhà đầu tư chiến lược hoặc một nhóm nhà đầu tư nhất định. Hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ được bán chủ yếu cho nhà đầu tư chuyên nghiệp, không tổ chức công bố thông tin công khai. Vì vậy, theo các nhà soạn luật, cần phải hạn chế chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng phát hành cho số lượng hạn chế rồi chào bán tiếp ra công chúng. Với mục đích đó, Nghị định 163/2018/NĐ-CP hay ngay cả dự thảo Luật Chứng khoán cũng quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ tối thiểu là 1 năm.
Một quy định khác cũng cần chú ý, đó là việc không chế số lượng các nhà đầu tư mua trái phiếu ở cả thị trường sơ cấp và thứ cấp. Cụ thể, Khoản 4 Điều 2 Nghị định 90/2011/NĐ-CP: “Phát hành trái phiếu riêng lẻ” là phát hành trái phiếu cho dưới một trăm (100) nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet”, điều này dẫn đến cách hiểu rằng trái phiếu riêng lẻ chỉ bị giới hạn khi phát hành cho dưới 100 nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp, còn sau khi phát hành, việc giao dịch và nắm giữ trái phiếu trên thị trường thứ cấp không bị giới hạn bởi quy định này. Có trường hợp trái phiếu doanh nghiệp được phát hành riêng lẻ dưới 100 nhà đầu tư (thị trường sơ cấp), sau đó niêm yết giao dịch (thị trường thứ cấp) để tránh khỏi hình thức phát hành ra công chúng với tiêu chuẩn, điều kiện cao hơn. Do vậy, Nghị định mới đã hạn chế số lượng nhà đầu tư ngay cả trên thị trường thứ cấp. Mặc dù đưa ra hạn chế số lượng nhà đầu tư trên thị trường thứ cấp, nhà làm luật cũng rất e ngại quyền lợi của nhà đầu tư trong giao dịch phát hành riêng lẻ vô hình trung bị ảnh hưởng đáng kể, giảm tính thanh khoản của trái phiếu và không còn hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư. Do đó, việc giới hạn này được diễn ra trong vòng 1 năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành, sau thời hạn này trái phiếu doanh nghiệp được giao dịch không hạn chế về số lượng nhà đầu tư (Khoản 8 Điều 6 Nghị định 163/2018/NĐ-CP).
Mặc dù đã có sự phát triển mạnh trong thời gian gần đây nhưng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn còn nhỏ so với với nhiều nước như Hàn Quốc, Malaysia,… Những sửa đổi, bổ sung quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp của Bộ Tài chính dự kiến sẽ mang lại sự ảnh hưởng đối với hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp, hoàn thiện thêm tính pháp lý, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường trái phiếu.