CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

Ban kiểm soát trong công ty đại chúng – điều kiện, quyền hạn và chế tài hành chính

Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần nói chung và công ty đại chúng nói riêng đóng vai trò bảo vệ nhà đầu tư và giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Để có thể thực hiện chức năng giám sát, Ban kiểm soát cần phải độc lập trong việc thành lập và hoạt động của chính mình. Thông qua việc thực hiện chức năng của mình, Ban kiểm soát sẽ đảm bảo rằng các quyết định của công ty tuân thủ pháp luật và bảo vệ lợi ích của các cổ đông, đây là lý do cho sự ra đời, tồn tại và hoạt động của Ban kiểm soát. Tuy nhiên, việc không đảm bảo cơ cấu nhân sự tại Ban kiểm soát là một trong các lỗi vi phạm hành chính phổ biến trong các công ty đại chúng.

Theo quy định tại Nghị định 71/2017/NĐ-CP, thành viên Ban kiểm soát của công ty đại chúng phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp;
– Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác;
– Không được giữ các chức vụ quản lý công ty; không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;
– Không được làm việc trong bộ phận kế toán, tài chính của công ty;
– Không được là thành viên hay nhân viên của công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán các báo cáo tài chính của công ty trong 03 năm liền trước đó.
Số lượng Kiểm soát viên ít nhất là 03 người và nhiều nhất là 05 người. Kiểm soát viên có thể không phải là cổ đông của công ty, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông. Nhiệm vụ của Ban kiểm soát các công ty niêm yết được quy định chủ yếu trong Điều lệ và Quy chế quản trị công ty xây dựng theo Nghị định 71/2017/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tế nhiệm vụ của Ban kiểm soát lại rất mờ nhạt và mang tính hình thức. Sự tồn tại của Ban kiểm soát thường hạn chế quyền lực của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, trong khi thành viên Ban kiểm soát thường đồng thời là nhân viên cấp thấp trong công ty và chịu sự quản lý của chính Hội đồng quản trị và Ban giám độc. Điều này vô hình chung dẫn tới thành viên Ban kiểm soát không giữ được sự độc lập khách quan trong công việc. Đồng thời, các cổ đông cũng chưa ý thức được hết tầm quan trọng của Ban kiểm soát trong việc bảo vệ lợi ích của mình. Theo quy định tại Nghị định 71/2017/NĐ-CP, quyền hạn của Ban kiểm soát gồm:
– Đề xuất và kiến nghị Đại hội đồng cổ đông phê chuẩn tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty;
– Chịu trách nhiệm trước cổ đông về hoạt động giám sát của mình;
– Giám sát tình hình tài chính công ty, tính hợp pháp trong các hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), người quản lý khác, sự phối hợp hoạt động giữa Ban kiểm soát với Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) và cổ đông;
– Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm Điều lệ công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) và người điều hành doanh nghiệp khác, phải thông báo bằng văn bản với Hội đồng quản trị trong vòng 48 giờ, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả;
– Báo cáo tại Đại hội đồng cổ đông.
Thực tế pháp luật trao quyền hạn cho Ban kiểm soát nhưng chưa có các biện pháp bảo đảm việc thực hiện các quyền hạn này. Do đó, việc vi phạm các quy định về thành lập Ban kiểm soát khá thường xuyên và không ít doanh nghiệp không đáp ứng các quy định này. Số lượng công ty đại chúng ngày càng tăng nhanh, nhưng nhiều doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp cận các mô hình quản trị tiên tiến. Đặc biệt, việc áp dụng các cơ chế giám sát hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp vẫn còn khá xa lạ. Nếu không có những cơ chế như vậy sẽ khó bảo đảm sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật. Trong khi các cơ chế này nhằm vào giám sát tìm ra những bất cập trong hoạt động của công ty đại chúng – những công ty với rất nhiều cổ đông và có sự ảnh hưởng lớn trên thị trường.
Pháp luật có quy định chế tài xử phạt đối với những vi phạm về quản trị công ty đại chúng. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 145/2016/NĐ-CP, phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định pháp luật quản trị công ty đại chúng về ứng cử, đề cử, bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên Ban kiểm soát.
ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước.
Liên hệ với chúng tôi qua email: luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

Các hình thức bảo hộ nhãn hiệu

Để hiểu rõ hơn về các hình thức bảo hộ nhãn hiệu, bài viết sau xin đưa ra hai hình thức bảo hộ nhãn hiệu được pháp luật công nhận và cho phép như sau: bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu thông thường hoặc nhãn hiệu nổi tiếng.

Với nhãn hiệu thông thường:
Nhãn hiệu thường là các dấu hiệu như một từ, ngữ, hình ảnh, biểu tượng, logo hoặc sự kết hợp các yếu tố này được sử dụng trên hàng hóa hoặc dịch vụ, giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được các mặt hàng khác nhau trên thị trường. Chức năng phân biệt nguồn gốc hàng hóa và dịch vụ luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu. Xuất phát từ chức năng này, việc bảo hộ nhãn hiệu không yêu cầu bảo hộ đối với tính mới, tính sáng tạo hay khả năng áp dụng công nghiệp. Đồng thời, việc phân phối, mua bán khiến hàng hóa, dịch vụ trở nên gần gũi với người tiêu dùng, không yêu cầu tính bí mật của nhãn hiệu. Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu được quy định tại Điều 72 Luật SHTT, gồm:
– Thứ nhất, nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc. Pháp luật Việt Nam hiện không bảo hộ các nhãn hiệu dạng âm thanh hoặc mùi hương do không nhìn thấy được, ngay cả khi âm thanh hoặc mùi hương đó có khả năng phân biệt cao. Một số dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt tự thân như: các biểu tượng, hình vẽ, tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ; các dấu hiệu chỉ địa điểm, nguồn gốc địa lý, phương pháp sản xuất hoặc các đặc tính mô tả hàng hoá, dịch vụ; các hình đơn giản, chữ số, chữ cái…
– Thứ hai, nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 74 Luật SHTT. Không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Cục Sở hữu công nghiệp hoặc đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hoá được coi là nổi tiếng.
Nhãn hiệu nổi tiếng:
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Khác với nhãn hiệu thông thường, đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký, chỉ cần cần đã được sử dụng và nhận biết rộng rãi và đáp ứng các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Điều 75 Luật SHTT, gồm: 
(1) Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; 
(2) Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; 
(3) Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp; 
(4) Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; 
(5) Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu; 
(6) Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; 
(7) Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; 
(8) Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.
 Đây là những tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền xem xét có bảo hộ một nhãn hiệu dưới hình thức nhãn hiệu nổi tiếng hay không. Tính đến 17/11/2017, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố 6 nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam gồm: Vinamilk, IKEA, Vinacafe, Nike, Petrolimex, Phạm và Liên Danh.
Cơ quan có thẩm quyền công nhân nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Điểm 42.4 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN được sửa đổi bổ sung bởi thông tư 05/2013/TT-BKHCN quy định: “Trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng được công nhận theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc theo quyết định công nhận của Cục Sở hữu trí tuệ thì nhãn hiệu nổi tiếng đó sẽ được ghi nhận vào Danh mục nhãn hiệu nổi tiếng được lưu giữ tại Cục Sở hữu trí tuệ”. Như vậy, để được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng, một nhãn hiệu phải đáp ứng được các tiêu chí quy định tại Điều 75 Luật SHTT. Hai cơ quan có thẩm quyền công nhận một nhãn hiệu là nhãn hiệu nổi tiếng là: Cơ quan tố tụng dân sự và Cục Sở hữu trí tuệ.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo hộ hoặc có được sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền. Ngày nay, tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu đã và đang đạt được nhận thức từ chính các doanh nghiệp, các chủ sở hữu nhãn hiệu cho hàng hóa, dịch vụ của mình.
ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước.
Liên hệ với chúng tôi qua email: luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Một số sửa đổi về thẩm quyền cấp giấy phép có liên quan trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy

Phòng cháy và chữa cháy là một trong những vấn đề được quan tâm và đặt dưới sự quản lý của nhà nước, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và bảo đảm tính khả thi trong việc thi hành quy định pháp luật, ngày 05/12/2018, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 36/2018/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 66/2014/TT-BCA ngày 16 tháng 12 năm 2014 của bộ trưởng bộ công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 79/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng cháy và chữa cháy. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ban hành và sửa đổi một số thẩm quyền cấp giấy phép có liên quan trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy.

Theo đó, Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh không còn có thẩm quyền cấp giấy phép vận chuyển chất, hàng nguy hiểm về cháy, nổ cho phương tiện của tổ chức, cá nhân có trụ sở hoạt động, cư trú trên địa bàn quản lý. Thẩm quyền này thuộc về Trưởng phòng Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh.
Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh cũng không còn được giao nhiệm vụ thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy. Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh có thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình, phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy không thuộc thẩm quyền của Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn quản lý và những trường hợp do Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ ủy quyền.
Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh không còn có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy. Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy do Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh cấp và có giá trị sử dụng trên phạm vi cả nước trong thời hạn 02 năm kể từ ngày cấp. Hết thời hạn này, phải huấn luyện lại để được cấp giấy chứng nhận mới.
Ngoài ra, Thông tư còn thay thế mẫu tem kiểm định phương tiện phòng cháy và chữa cháy (Mẫu số PC20) ban hành kèm theo Thông tư số 66/2014/TT-BCA bằng Mẫu số PC20 ban hành kèm theo Thông tư này.
ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước.
Liên hệ với chúng tôi qua email: luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2018

Điều kiện kinh doanh bất động sản

Theo quy định của Luật Kinh doanh Bất động sản 2014, kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi. Theo định nghĩa này kinh doanh bất động sản gồm hai hình thức: tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản với đối tượng kinh doanh là hàng hóa bất động sản; và kinh doanh dịch vụ bất động sản với đối tượng kinh doanh là dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ tư vấn bất động sản, dịch vụ quản lý bất động sản. Có nghĩa rằng cả hàng hóa và dịch vụ liên quan đến bất động sản là đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh doanh Bất động sản.
Thứ nhất, đối với điều kiện kinh doanh hàng hóa là bất động sản của tổ chức, cá nhân tại Điều 10 Luật Kinh doanh Bất động sản chỉ yêu cầu phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) và số vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên. Theo Luật Kinh doanh bất động sản 2006 thì vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là 6 tỷ đồng. Con số này đã tăng lên gấp hơn ba lần theo Luật Kinh doanh bất động sản 2014. Doanh nghiệp không phải làm thủ tục đăng ký xác nhận về mức vốn pháp định hoặc phải xin văn bản xác nhận tài khoản của Ngân hàng để chứng minh vốn pháp định. Trong bối cảnh ngày này thì con số 20 tỷ vốn pháp định không phải là cao, tuy nhiên đây chỉ là điều kiện để được phép kinh doanh ngành nghề này. Con số này được nâng lên nhằm hạn chế việc thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản một cách ổ ạt. Còn khi thực hiện dự án cụ thể, nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ vốn điều lệ (vốn chủ sở hữu) so với vốn đầu tư (vốn chủ sở hữu và vốn vay), ký quỹ, nhà ở dự phòng,… trong các văn bản luật đất đai, luật đầu tư. Các quy định này nhằm ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư đối với dự án mình thực hiện.
Thứ hai, theo quy định tại Chương IV Luật Kinh doanh Bất động sản 2014, kinh doanh dịch vụ bất động sản không có yêu cầu về vốn pháp định nhưng phải phải ứng điều kiện phải thành lập doanh nghiệp và các điều kiện về nhân sự và cơ sở vật chất. Không chỉ tổ chức, cá nhân trong nước, mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đều có quyền kinh doanh các dịch vụ môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, quản lý bất động sản. Tuy nhiên, các công ty nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam không được phép cung cấp dịch vụ bất động sản qua biên giới mà buộc phải thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Các quy định trong Luật Kinh doanh Bất động sản 2014 không rõ ràng dễ nhầm lẫn giữa kinh doanh bất động sản nói chung (gồm cả hàng hóa và dịch vụ) và kinh doanh hàng hóa bất động sản, việc quy định chi tiết về vốn pháp định không áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bất động sản chỉ được làm rõ trong Nghị định 76/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản.
Thị trường bất động sản là một thị trường đặc biệt, hàng hoá là bất động sản có giá trị rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế- xã hội, đặc biệt là thị trường nhà đất đã có những bước phát triển đáng kể, góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế – xã hội của đất nước, làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá, do đó đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách rõ ràng nhằm bảo đảm điều chỉnh chính xác, kịp thời, tạo điều kiện phát triển hoạt động kinh doanh bất động sản và các dịch vụ liên quan.
ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước.
Liên hệ với chúng tôi qua email: luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Quyền nuôi con sau khi ly hôn

Cơ sở pháp lý:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nội dung phân tích:
Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
Điều 15: Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.”
Theo quy định trên, các vấn đề về quyền nuôi con cũng sẽ được quy định tại Mục 1, Chương V Luật Hôn nhân gia đình 2014 về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con. Điều 81 trong mục này có quy định như sau:
Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
  1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
  2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Với trường hợp của bạn, do con bạn đã trên 36 tháng tuổi nên bạn có thể thoả thuận với bố của bé về người trực tiếp nuôi con. Nếu bố của bé không đồng ý cho bạn giành quyền nuôi con thì bạn có thể yêu cầu toà án giải quyết.và phải đưa ra được chứng cứ chứng minh bạn có điều kiện tốt hơn bố của bé về mọi mặt như: thu nhập hàng tháng, chỗ ở ổn định, môi trường sống đảm bảo sự phát triển về cả thế chất lẫn tinh thần của bé, thời gian để chăm sóc cháu bé và hành vi của cha mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và sự phát triển của bé. Bạn còn có thể đưa ra các chứng cứ chứng minh rằng bố của bé không thoả mãn một hoặc một số các điều kiện nuôi con trên.
ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước.
Liên hệ với chúng tôi qua email: luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

Ký quỹ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp

Kinh doanh đa cấp là một hình thức bán lẻ hàng hóa thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau. Người tham gia vừa là thành viên của công ty, vừa là khách hàng. Họ sẽ hưởng lợi từ tiền hoa hồng của sản phẩm bán được của họ và những cấp dưới của họ. Kinh doanh đa cấp là hình thức kinh doanh hợp pháp ở Việt Nam. Thế nhưng, lợi dụng những kẽ hở của pháp luật, hình thức bán hàng đa cấp bất chính xuất hiện rất phổ biến. Hiện nay, Việt Nam cũng đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về việc kinh doanh đa cấp.


Để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp đối với người tham gia bán hàng đa cấp và Nhà nước, các tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải mở tài khoản ký quỹ và ký quỹ một khoản tiền tương đương 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn 10 tỷ đồng tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Đó là một trong những quy định tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Mức kỹ quỹ này được nâng cao hơn gấp đôi trước đây, và được quy định nộp bằng tiền mặt, không được bảo lãnh ngân hàng hoặc thế chấp bằng tài sản.

Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ.

Để thực hiện quy định này, ngày 30/11/2018, Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư 29/2018/TT-NHNN hướng dẫn việc xác nhận, quản lý tiền ký quỹ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp có hiệu lực kể tử ngày 18/01/2019. Nhằm đảm bảo thống nhất với nội dung tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, Thông tư 29/2018/TT-NHNN tập trung hướng dẫn các nội dung: Thủ tục nộp tiền ký quỹ và xác nhận tiền ký quỹ của doanh nghiệp, quản lý tiền ký quỹ, lãi suất tiền gửi ký quỹ, thủ tục rút tiền ký quỹ, xử lý khoản tiền đã ký quỹ, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan,…

Tiền gửi ký quỹ cũng được hưởng lãi suất tiền ký quỹ do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng ký quỹ giữa doanh nghiệp và ngân hàng nhận ký quỹ đảm bảo phù hợp với quy định về lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ. Doanh nghiệp được rút tiền ký quỹ trong các trường hợp sau:

– Bộ Công Thương từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp;

– Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định 40/2018/NĐ-CP và đã hoàn thành các trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định này;

– Doanh nghiệp đã thực hiện ký quỹ đảm bảo cho ngành nghề kinh doanh bán hàng đa cấp tại một ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng khác.

Khi hàng hóa được bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng thông qua mạng lưới bán hàng đa cấp, thì nhà sản xuất khôngg những tiết kiệm rất nhiều chi phí từ việc quảng cáo, khuyến mại, tiền kho bãi, vận chuyển hàng hóa,… mà còn được người tiêu dùng chia sẻ chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình đến nhiều người khác. Do tiết kiệm được các phí tổn từ đó nâng cao lợi nhuận của các doanh nghiệp đa cấp. Bán hàng đa cấp là một loại hình kinh doanh được hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới, được thâm nhập vào Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Nhưng tại Việt Nam hiện nay dễ bị lợi dụng biến tướng trở thành lừa đảo. Do đó, cần thiết phải có quy định chặt chẽ về ngành nghề kinh doanh này, nhằm bảo vệ người tham gia cũng như giám sát hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình bán hàng đa cấp.

Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư  luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

Thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân

Thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân như thế nào?

1. Hồ sơ thành lập doanh nghiệp tư nhân:
– Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
– Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác
– Văn bản xác nhân vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định
– Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc và cá nhân khác đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.
2. Thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân
– Người thành lập doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh đầy đủ theo quy định của Pháp luật tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh.
– Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh. Nếu hồ sơ đầy đủ, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ. Nếu từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì thông báo bằng văn bản cho người thành lập biết, trong thông báo phải nêu rõ lý do từ chối và các điểm cần sửa đổi, bổ sung.
– Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không được yêu cầu người thành lập nộp thêm các giấy tờ khác không theo quy định của luật này.
– Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gắn với dự án đầu tư cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.


Làm sao để Luật sư ANT có thể giúp doanh nghiệp của bạn?


Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư  luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.