CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

Đăng ký Sở hữu trí tuệ đối với Logo

Thủ tục đăng kí Logo như thế nào?

Logo là biểu tượng, dấu hiệu nhận diện của một đối tượng và dùng để phân biệt với đối tượng khác. Các đơn vị sở hữu logo đều rất quan tâm đến việc đăng ký sở hữu trí tuệ, bảo hộ cho logo của mình. ANT Lawyers xin giới thiệu đến Quý khách hàng dịch vụ đăng ký sở hữu trí tuệ đối với logo.
Logo có 2 hình thức bảo hộ: quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và bảo hộ nhãn hiệu.

Đăng ký quyền tác giả đối với logo.
Khi lựa chọn phương thức bảo hộ logo bằng phương thức đăng ký bản quyền tác giả, hình thức phù hợp với logo là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.
Hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả đối với logo gồm có:
  • Tờ khai đăng ký bản quyền tác giả;
  • 02 mẫu logo cần đăng ký bản quyền tác giả;
  • Giấy ủy quyền (nếu người nộp hồ sơ là người được ủy quyền);
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp hồ sơ;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả (nếu tác phẩm có nhiều tác giả);
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu (nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung).
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Cục Bản quyền tác giả – Bộ văn hóa, thể thao và du lịch.
Thời hạn giải quyết hồ sơ: 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu gồm có:
  • Tờ khai đăng ký nhãn hiệu;
  • Mẫu nhãn hiệu (mẫu logo);
  • Giấy ủy quyền (nếu nộp đơn thông qua đại diện);
  • Chứng từ nộp phí, lệ phí.
Khi đăng ký nhãn hiệu cho logo, người nộp đơn cần xác định rõ nhóm sản phẩm, dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo Bảng phân loại quốc tế các hàng hóa, dịch vụ Ni – xơ 10.
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Cục sở hữu trí tuệ – Bộ khoa học và công nghệ.
Thời hạn giải quyết hồ sơ: từ 10 đến 12 tháng kể từ ngày nộp đơn (trường hợp phải sửa đổi bổ sung đơn hoặc bị phản đối sẽ kéo dài hơn).
– Soạn thảo hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan/đăng ký nhãn hiệu;
– Đại diện nộp hồ sơ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
– Đại diện theo dõi quy trình xử lý đơn và thông báo kết quả đến khách hàng;
– Đại diện soạn thảo các công văn, giải trình, trả lời cơ quan giải quyết hồ sơ;
– Đại diện nhận kết quả và bàn giao kết quả.

Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn


Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Quan hệ hôn nhân và gia đình là một trong những quan hệ pháp luật phổ biến nhất, khi xảy ra tranh chấp rất khó giải quyết, bởi bên cạnh các yếu tố pháp luật luôn đan xe các yếu tố tình cảm. Trong phạm vi bài viết này, xin đưa ra một số tranh chấp điển hình trong quan hệ hôn nhân và gia đình và hướng giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quan hệ hôn nhân, bất cứ cặp vợ chồng nào cũng có tài sản chung. Khi xảy ra vấn đề ly hôn, không ít cặp vợ chồng xảy ra mâu thuận lớn khi phân chia tài sản, ai cũng ra sức kể công. Sau đây người viết chỉ xin bàn về tranh chấp tài sản chung trong trường hợp: chồng là người kiếm tiền chính trong gia đình, vợ ở nhà nội trợ và chăm sóc con cái.
Trường hợp này, người chồng mong muốn giành toàn bộ tài sản, không chia tài sản cho vợ, bởi:
  • Vợ không có công việc, không kiếm ra tiền, chỉ làm việc nhà và trông nom con cái;
  • Chồng là người duy nhất trong nhà đi làm và mang tiền về;
  • Các tài sản trong gia đình đều được mua bởi tiền của chồng.
Do đó người chồng cho rằng mình có công sức đóng góp lớn trong việc tạo lập tài sản, người vợ không tạo lập được gì nên không được chia tài sản.
Tuy nhiên dưới góc độ của Luật Hôn nhân và gia đình, mong muốn của người chồng không thể thực hiện được. Bởi Luật xác định: “lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”. Tức là trong gia đình, có vợ/chồng là lao động chính, tạo ra nguồn thu nhập chính và ổn định cho gia đình, người còn lại chỉ làm công việc nội trợ, nuôi dạy và trông nom con cái, luật xác định lao động của hai người là ngang nhau, đều là lao động có thu nhập.
Người vợ chỉ làm việc nội trợ gia đình, nuôi dạy và trông nom con cái là lao động có thu nhập ngang với lao động của người chồng bên ngoài xã hội.
Quy định này xuất phát từ việc không chỉ xem xét quá trình tạo lập tài sản, mà còn ghi nhận công sức duy trì, trông nom, phát triển tài sản. Nếu như người chồng có công trong việc tạo lập tài sản chung, thì người vợ lại có công trong việc duy trì, trông nom, bảo vệ và phát triển tài sản chung. Đôi khi, công lao trong việc duy trì, phát triển tài sản chung lớn hơn công lao trong việc tạo lập ra tài sản.
Vì thế, người chồng không có căn cứ yêu cầu được giữ toàn bộ tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.
Người chồng chỉ có quyền yêu cầu xem xét công sức đóng góp đối với những tài sản chung có nguồn gốc là tài sản riêng sau đó được chuyển thành tài sản chung vợ chồng.
Bên cạnh vấn đề phân chia tài sản chung, tranh chấp quyền nuôi con cũng là dạng tranh chấp trong hầu hết các quan hệ ly hôn bởi cả cha và mẹ đều mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con mình. Sau đây người viết chỉ xin bàn về tranh chấp quyền nuôi con trong trường hợp con chung đã đủ 3 tuổi.
Luật hôn nhân và gia đình có quy định: “con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác”. Luật chỉ dành quyền ưu tiên nuôi con cho người mẹ khi con chung dưới 3 tuổi. Khi con chung từ đủ 3 tuổi trở lên, nếu có tranh chấp, cha và mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dưỡng con. Khi đó, Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp sẽ căn cứ vào các điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con của hai bên cha và mẹ, như sau:
  • Điều kiện kinh tế: cha và mẹ để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho con cần phải có tài chính. Pháp luật không bắt buộc người trực tiếp nuôi dưỡng con chung phải có năng lực tài chính tốt, cho con cái cuộc sống chất lượng cao, hiện đại, mà chỉ đặt ra yêu cầu cha/mẹ phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho con chung. Mức sống tối thiểu được xác định là những nhu cầu cần và đủ cho lứa tuổi của con và ở mức tối thiểu. Ví dụ: con chung 3 tuổi 6 tháng, ở độ tuổi này có thể xác định được những nhu cầu tối thiểu của con như ăn, uống, vui chơi, học tập. Cha/mẹ phải đáp ứng được tối thiểu những nhu cầu này và đảm bảo cho các nhu cầu của con.
Hiện nay có rất nhiều các cặp cha mẹ có kinh tế tốt, cung cáp cho con một cuộc sống tiện nghi, đầy đủ. Khi xảy ra tranh chấp quyền nuôi con, mỗi bên phải chứng minh về tài chính tốt, đảm bảo cho con cuộc sống tốt hơn phía bên kia có thể làm được. Tuy nhiên, kinh tế tốt chưa phải là điều kiện quyết định quyền nuôi con sẽ thuộc về ai.
  • Điều kiện tinh thần: có thể kể đến như:
+ Phẩm chất đạo đức của cha/mẹ: người trực tiếp nuôi dưỡng con chung đương nhiên phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, bởi điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con chung.
+ Điều kiện sức khỏe của cha/mẹ: người trực tiếp nuôi dưỡng con chung phải có sức khỏe đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con.
+ Điều kiện công việc và thời gian dành cho con: xem xét đến tính chất công việc, thời gian làm việc và thời gian cha/mẹ có thể dành cho con khi trực tiếp nuôi dưỡng cho con. Có cha/mẹ làm buôn bán ngay tại nhà rất thuận lợi cho việc trực tiếp nuôi dưỡng con. Cũng có những cha/mẹ do tính chất công việc hay phải đi sớm về muộn, phải đi công tác xa, dẫn đến việc không dành thời gian chăm sóc cho con. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến việc giành quyền nuôi con.
+ Điều kiện môi trường sống: môi trường sống là yếu tố tác động đến sự phát triển nhân cách của con, cha/mẹ khi giành quyền nuôi con phải chứng minh về môi trường sống của con.
+ Và các điều kiện thực tế khác.
Hai điều kiện này xuất phát từ quy định đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con và trên thực tế đã được rất nhiều tòa án áp dụng. Tuy nhiên có nhiều yếu tố khách quan khác vẫn ảnh hưởng đến quyết định Tòa án.

Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

Hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự – hôn nhân – gia đình


Khi xảy ra tranh chấp không thể thương lượng giữa hai bên, một trong các bên có thể tiến hành khởi kiện yêu cầu tòa án có thâm quyền giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
ANT Lawyers cung cấp quy định về hồ sơ khởi kiện và thủ tục khởi kiện như sau:
– Đơn khởi kiện (theo mẫu)
– Các tài liệu liên quan đến vụ kiện (giấy tờ nhà, đất, hợp đồng …)
– Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao chứng thực) nếu là cá nhân
– Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao chứng thực) nếu là pháp nhân.
– Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).
* Lưu ý:
– Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam.
2. Lệ phí
Theo quy định tại Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
– Án phí dân sự bao gồm án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí phí dân sự phúc thẩm
– Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000đ
– Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự có giá ngạch được quy định cụ thể trong Pháp lệnh về án phí, lệ phí của Tòa án.
3. Thời gian giải quyết
– Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án
– Thời hạn mở phiên tòa:  Từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.





Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Phân bổ thu nhập của người lao động để đóng bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội (“BHXH”) là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động (“NLĐ”) khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. 


Mức đóng và mức hưởng BHXH được nhà nước tính dựa trên 5 nguyên tắc cơ bản đó là: 

(i) Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH; 

(ii) Mức đóng BHXH bắt buộc, BHTN được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung; 

(iii) Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH;

 (iv) Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHTN; 

(v) Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.

Về vấn đề BHXH trong mối quan hệ giữa NLĐ và người sử dụng lao động (“NSDLĐ’), NLĐ luôn muốn được chủ doanh nghiệp thực hiện việc đóng bảo hiểm nhằm ổn định cuộc sống và trợ giúp NLĐ khi gặp rủi ro. Tuy nhiên, phân bổ các khoản thu nhập thế nào đề giảm bớt tiền đóng bảo hiểm, tối đa hóa các khoản thu để nhận lại nhiều lợi ích nhất là vấn đề hiện nay rất nhiểu NLĐ quan tâm. Phân bổ thu nhập NLĐ không phải do tự ý chí của chủ doanh nghiệp mả phải dựa trên quy định pháp luật, phù hợp với thực tế để đảm bảo được quyền lợi chính đáng của NLĐ. Mọi hành vi “lách luật” phân bổ thu nhập không đúng thực tế và pháp luật sẽ dẫn đến nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn đóng BHXH theo Điều 216 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi năm 2017), đó là có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Để phân bổ thu nhập thì vấn đề cần quan tâm ở đây đó là những khoản nào phải đóng BHXH và những khoản nào không tính đóng bảo hiểm xã hội. Căn cứ vào Luật BHXH 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan, thu nhập tính đóng BHXH bắt buộc gồm 10 khoản đó là: Tiền lương; Phụ cấp chức vụ, chức danh; Phụ cấp chức vụ, chức danh; Phụ cấp trách nhiệm; Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; Phụ cấp thâm niên; Phụ cấp khu vực; Phụ cấp lưu động; Phụ cấp thu hút; Các phụ cấp có tính chất tương tự; Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thoả thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương.

Ngoài ra, các khoản thu nhập không tính đóng BHXH bắt buộc bao gồm 15 khoản đó là: Tiền thưởng; Tiền thưởng sáng kiến; Tiền ăn giữa ca; Khoản hỗ trợ xăng xe; Khoản hỗ trợ điện thoại; Khoản hỗ trợ đi lại; Khoản hỗ trợ tiền nhà ở; Khoản hỗ trợ tiền giữ trẻ; Khoản hỗ trợ nuôi con nhỏ; Hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết; Hỗ trợ khi người lao động có người thân kết hôn; Hỗ trợ khi sinh nhật của người lao động; Trợ cấp khi người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động; Trợ cấp khi người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị bệnh nghề nghiệp; Các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động. Dựa vào các khoản đã được phân loại nói trên mà kế toán của doanh nghiệp sẽ phân bổ từng loại thu nhập của NLĐ một cách hợp lý. Tránh trường hợp khoản không phải đóng BHXH lại tính vào khoản bắt buộc phải đóng BHXH và ngược lại, sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của cả hai bên đó là NLĐ và NSDLĐ.

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

Chuyển giá trong kinh doanh

Đối với mỗi doanh nghiệp, vấn đề làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt là vấn đề sống còn. Chuyển giá được xem như là biện pháp giúp tối đa hóa lợi nhuận, với nguyên tắc cơ bản là giúp doanh nghiệp giảm nghĩa vụ thuế, từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng.

Chuyển giá xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh. Theo đó, các chủ thể có quyền quyết định giá cả của một giao dịch, có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. Về mặt lý thuyết, chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá thị trường mà theo một mức giá thỏa thuận khác nhằm tối thiểu hóa số thuế của các tập đoàn hay của nhóm liên kết. Để thực hiện được các mục tiêu chuyển giá, doanh nghiệp thực hiện chuyển giá thông qua việc định giá khi nhập khẩu máy móc, thiết bị,… hay kê khai giá nguyên liệu đầu vào rất cao và kê khai giá bán thấp đồng thời tìm mọi cách khai tăng các chi phí khác (chi phí quảng cáo, khuyến mại) nhằm triệt tiêu lợi nhuận. Pháp luật luôn có quy định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là cách để các doanh nghiệp tránh thuế thu nhập doanh nghiệp tại nơi đăng ký hoạt động.
Để thực hiện chuyển giá cần có sự liên kết giữa các doanh nghiệp, công ty với nhau, dễ dàng nhất là các công ty con đặt tại nhiều nước khác nhau của một tập đoàn đa quốc gia. Do đó, chuyển giá thường hay được thực hiện trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài –  chủ thể hiện diện nhiều ở nhiều quốc gia, và việc các quốc gia khác nhau sẽ có các chính sách thuế khác nhau, dẫn đến mức thuế suất áp dụng cho thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau. Họ lợi dụng sự khác biệt thuế suất giữa các quốc gia, khu vực để trốn thuế. Tại Việt Nam thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%, tại Mỹ là 35%,… nhưng nhiều quốc gia khác như Panama, Hàn Quốc, Macau, Saint Lucia, Samoa, Tunisia,… là những thiên đường về thuế khi mức thuế thu nhập doanh nghiệp rất thấp hoặc thậm chí là 0%. Các doanh nghiệp này tự dàn xếp giá với nhau thông qua các giao dịch liên kết theo một trong những hình thức được đề cập như sau:
– Các doanh nghiệp nằm ở khu vực chịu thuế cao ký kết các hợp đồng mua bán nguyên vật liệu, chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ… với vai trò là người mua, người sử dụng dịch vụ với các doanh nghiệp ở khu vực chịu thuế thấp. Bằng cách này, các doanh nghiệp ở khu vực có mức thuế cao luôn trong tình trạng lãi ít hoặc không có lãi để không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh thu sẽ được đẩy về các doanh nghiệp ở khu vực có mức thuế thấp.
– Hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lựa chọn một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới có mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp để làm địa điểm đặt trụ sở doanh nghiệp sau đó đầu tư vào Việt Nam. Công ty tại Việt Nam sẽ bán sản phẩm cho công ty mẹ tại các quốc gia này với giá bằng giá gốc để tránh nộp thuế tại Việt Nam. Sau đó, bên mua sẽ bán lại cho bên thứ ba thu lãi. Do thuế thu nhập doanh nghiệp tại những quốc gia nơi nhà đầu tư đăng ký đầu tư vào Việt Nam bằng 0%, hoặc ở mức rất thấp, nên doanh nghiệp không phải đóng thuế hoặc đóng thuế rất thấp.
Đây là những hành vi phổ biến nhất. Bởi với lợi thế nắm giữ phần vốn lớn tại các doanh nghiệp Việt Nam, bên liên kết nước ngoài có quyền định đoạt giá chuyển giao hàng hóa, nguyên liệu để chuyển được nhiều lợi nhuận trước thuế ra nước ngoài.
Chuyển giá hướng đến mục tiêu nhằm tối đa hóa lợi nhuận ở quốc gia đánh thuế thấp và tối thiểu hóa lợi nhuận ở những quốc gia đánh thuế cao. Thông qua các giao dịch liên kết này, các công ty trong nhóm cùng giảm được tổng nghĩa vụ thuế trên phạm vi toàn cầu, tăng được lợi nhuận sau thuế. Những doanh nghiệp sở hữu nhiều bản quyền sở hữu trí tuệ, như công nghệ hay dược phẩm, càng có cơ hội tiến hành chuyển giá vì việc định giá những giá trị phi vật chất này rất chủ quan và không có một tiêu chuẩn chung nào để định giá. Cách nhìn nhận khá phổ biến tại Việt Nam về chuyển giá là công cụ trốn thuế và hành vi vi phạm pháp luật. Hiện nay, vấn đề chuyển giá được điều chỉnh bởi Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết và Thông tư 41/2017/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

Điều chỉnh hợp đồng khi gặp khó khăn

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, sự giao lưu, ký kết các hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng quốc tế ngày càng đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong khi thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp cũng có thể gặp một số rủi ro từ thiên nhiên, suy thoái kinh tế, xã hội,… đây là những rủi ro khó tránh khỏi, có thể đẩy doanh nghiệp vào hoàn cảnh khó khăn, khó thực hiện được hợp đồng trên thực tế.



Bộ luật dân sự 2015 đã có quy định về “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” tại Điều 420, theo đó, các bên có thể điều chỉnh hợp đồng khi có sự thay đổi sau:

i) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;


ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;

iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;

iv) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;

v) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.

Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý; Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:

i) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;

ii) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Việc điều chỉnh hợp đồng khi gặp hoàn cảnh khó khăn còn rất mới đối với các doanh nghiệp trong nước và chưa được các áp dụng rộng rãi, tuy nhiên trong luật quốc tế, các điều khoản này đã được quy định từ lâu. Vì vậy, nên khi thực hiện ký hợp đồng, các doanh nghiệp cần chú ý thêm điểu khoản điều chỉnh hợp đồng khi gặp khó khăn, để có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Việc bổ sung điều khoản này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện hợp đồng khi có những sự kiện bất khả kháng xảy ra, giúp hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp.

Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Quy định pháp luật lao động về làm thêm giờ

Theo quy định của Bộ luật Lao động, thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần. Đây là thời giờ làm việc cố định áp dụng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào sử dụng lao động.

Tuy nhiên, trong quá trình lao động và sản xuất, việc làm thêm giờ là điều cần thiết để đảm bảo việc vận hành và công việc kinh doanh hoạt động đúng tiến độ, Bộ luật Lao động cho phép việc làm thêm giờ phải đáp ứng các điều kiện như sau:
– Được sự đồng ý của người lao động;
– Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;
– Các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ trên 200 giờ nhưng không vượt quá 300 giờ trong một năm gồm:
+ Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản;
+ Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
+ Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.
– Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.
Thông thường, việc làm thêm giờ được giới hạn ở mức 200 giờ trong 01 năm, các doanh nghiệp không được tổ chức làm thêm giờ vượt quá con số này, trừ trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ. Khi tổ chức làm thêm giờ thì người sử dụng lao động phải thông bảo bằng văn bản cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương. Nếu vi phạm các quy định này, doanh nghiệp sẽ phải chịu mức xử phạt hành chính như sau:
– Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường và trường hợp không quá 300 giờ trong 01 năm theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.
– Doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu không thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về lao động tại địa phương về việc tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm theo quy định tại Khoản 11 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP.
– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động nếu sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ mà không được sự đồng ý của người lao động theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 14 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.
Cần chú ý rằng, trên đây là mức phạt tiền đối với cá nhân, còn mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền trên.