CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

Quy định về hòa giải trong Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại

Trong những năm qua, các vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính luôn có xu hướng tăng mạnh với tính chất ngày càng phức tạp. Khác với các nước phương Tây, ở Việt Nam giải quyết tranh chấp tại Tòa án là biện pháp được sử dụng phổ biến, các hình thức như thương lượng, hòa giải mặc dù có những ưu điểm nhất định nhưng ít được sử dụng. Thực tiễn hệ thống pháp luật Việt Nam cho thấy, quy định pháp luật về hòa giải, đối thoại đã được xây dựng tương đối căn bản trong quá trình cải cách tư pháp; trong đó, có nhiều quy định nhằm khuyến khích tăng cường hòa giải, đối thoại. Và gần đây, Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án đã được công khai lấy ý kiến từ ngày 01/10/2018.

Để thực hiện hoạt động hòa giải, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập Trung tâm hòa giải, đối thoại chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát trực tiếp của Tòa án nơi đặt Trung tâm. Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án gồm các chức danh Giám đốc, Phó Giám đốc, Hòa giải viên, Đối thoại viên. Giám đốc Trung tâm là người đứng đầu Trung tâm được bổ nhiệm theo một trong hai hình thức: (1) Chánh án Tòa án nơi đặt Trung tâm phân công Thẩm phán theo chế độ luân phiên; hoặc (2) Các Hòa giải viên, Đối thoại viên bầu trong số các Hòa giải viên, Đối thoại viên của Trung tâm. Nguồn nhân lực được huy động để bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên được lựa chọn từ các đối tượng: (1) Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và những người giữ chức danh tư pháp khác đã nghỉ hưu; (2) Cán bộ trung cấp, cao cấp nghỉ hưu; (3) Chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực công tác; và (4) Những người có uy tín cao trong xã hội khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
– Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, trung thực, khách quan;
– Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao;
– Có kinh nghiệm và khả năng hòa giải, đối thoại;
– Tự nguyện thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại.
Trong bối cảnh ngân sách Nhà nước eo hẹp, công việc của Tòa án quá tải thì việc huy động nguồn nhân lực không thuộc biên chế Nhà nước nhưng đáp ứng những yêu cầu nhất định để tham gia công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án là một trong những yêu cầu cần thiết tạo nên thành công của chế định này.
Phạm vi hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện đối với các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính; yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính hoặc các mâu thuẫn, tranh chấp dân sự, hành chính do một hoặc các bên yêu cầu Tòa án hòa giải, đối thoại. Khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 119 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án chuyển đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án khi có đủ các điều kiện: (1) Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; (2) Người khởi kiện, người yêu cầu không phản đối việc hoà giải, đối thoại trước khi Tòa án xem xét thụ lý theo trình tự tố tụng; (3) Vụ việc không thuộc trường hợp không được hòa giải, đối thoại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, có hai hình thức hòa giải là hòa giải tiền tố tụng và hòa giải trong tố tụng. Hoạt động hòa giải, đối thoại theo pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hành chính không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hòa giải, đối thoại. Do đó, hòa giải theo Luật này thuộc hình thức hòa giải tiền tố tụng không bắt buộc.
Sau khi tiến hành hòa giải, đối thoại, các bên có thể yêu cầu Tòa án công nhận hòa giải thành, đối thoại thoại thành. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (khoản 8 Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nội dung này cũng được ghi nhận trong Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại. Kết quả hòa giải ngoài Tòa án được Tòa án ra quyết định công nhận sẽ được cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo pháp luật về thi hành án.
Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy, thực hiện hiệu quả cơ chế hòa giải, đối thoại có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính, cụ thể là góp phần tăng cường sự đồng thuận trong xã hội; giảm tải số lượng các vụ, việc phải đưa ra xét xử, khắc phục tình trạng quá tải án, tạo điều kiện để tòa án tập trung các nguồn lực nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử. Qua triển khai thí điểm đề án, các Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Hải Phòng đã nhận được hơn 2.500 đơn khởi kiện và đưa ra hòa giải, đối thoại gần 2.400 đơn. Trong đó, có hơn 1.800 đơn đã được hòa giải, đối thoại thành công, đạt tỷ lệ 76,2%. Dự kiến, thời gian tới, ngoài Hải Phòng, đề án sẽ tiếp tục được mở rộng thí điểm tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Khánh Hòa, Long An. Kết quả và kinh nghiệm của đề án sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng Dự án Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án theo quy định của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.



Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

Chuyển Nhượng Dự Án Bất Động Sản Cần Tuân Thủ Nguyên Tắc Nào?

Theo Đ 48, Luật Kinh Doanh Bất Động Sản, việc chuyển nhượng dự án bất động sản cần tuân thủ nguyên tắc sau:
Chủ đầu tư dự án bất động sản được chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án cho chủ đầu tư khác để tiếp tục đầu tư kinh doanh.

Việc chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản phải bảo đảm yêu cầu sau đây:
  • Không làm thay đổi mục tiêu của dự án;
  • Không làm thay đổi nội dung của dự án;
  • Bảo đảm quyền lợi của khách hàng và các bên có liên quan.
Việc chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc đầu tư đồng ý bằng văn bản. Chủ đầu tư nhận chuyển nhượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc được đăng ký biến động vào giấy chứng nhận đã cấp cho chủ đầu tư chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai.
Chủ đầu tư nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản không phải làm lại hồ sơ dự án, quy hoạch xây dựng và Giấy phép xây dựng của dự án nếu không có thay đổi về nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư của dự án.
Nếu khách hàng quan tâm tới dịch vụ tư vấn pháp lý trong lĩnh vực bất động sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hãy gửi yêu cầu để luật sư của ANT Lawyers tư vấn.

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018

Một số nội dung quy định trong Luật cạnh tranh sửa đổi

Ngày 12/06/2018, Luật cạnh tranh số 23/2018/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018 thay thế cho Luật cạnh tranh 2004, gồm 10 Chương và 118 Điều. Luật 2018 đã bãi bỏ, sửa đổi và bổ sung nhiều nội dung mới phù hợp với thực tiễn qua 14 năm thi hành Luật Cạnh tranh 2004, quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam; hành vi cạnh tranh không lành mạnh; tố tụng cạnh tranh; xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh; quản lý nhà nước về cạnh tranh.
Về quản lý nhà nước, Luật Cạnh tranh 2018 trao thẩm quyền cho Bộ Công Thương là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh (trước đây là Bộ Thương mại); quy định thành lập Ủy ban Cạnh tranh quốc gia trực thuộc Bộ Công thương trên cơ sở tổ chức lại các cơ quan quản lý cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2004, bao gồm cơ quan quản lý cạnh tranh (Cục Cạnh tranh và Bảo vệ Người tiêu dùng) và Hội đồng Cạnh tranh. Ủy ban Cạnh tranh quốc gia là một cơ quan vừa thực thi quản lý nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh nhưng cũng đồng thời thực thi hoạt động tố tụng điều tra, xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh.
Một trong những nội dung đáng chú ý, Luật Cạnh tranh 2018 cũng thay đổi cách tiếp cận đối với vấn đế tập trung kinh tế khi bãi bỏ  hành vi tập trung kinh tế ra khỏi khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh và thừa nhận tập trung kinh tế là quyền của doanh nghiệp. Do đó, luật không cấm tập trung kinh tế dựa trên mức thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan như quy định tại Luật Cạnh tranh 2004. Ngược lại, Luật Cạnh tranh 2018 chỉ quy định cấm doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế khi hành vi tập trung  kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Thị phần chỉ là một trong các yếu tố được xem xét khi quyết định đồng ý hay không đồng ý một vụ việc tập trung kinh tế. Ủy ban Cạnh tranh quốc gia chịu trách nhiệm đánh giá hành vi tập trung kinh tế dựa theo các tiêu chí quy định tại Điều 31, 32 Luật Cạnh tranh 2018. Tác động tiêu cực vá tích cực đồng thời được đưa ra đánh giá. Nếu vụ việc chỉ có tác động tích cực thì không cản trở. Nếu có cả tác động tích cực lẫn tiêu cực thì Ủy ban có thể vẫn cho phép tiến hành tập trung kinh tế, nhưng kèm theo một số điều kiện để hạn chế tác động tiêu cực. Đây là cách tiếp cận hoàn toàn mới so với quy định của Luật Cạnh tranh 2004 cấm toàn bộ tập trung kinh tế dựa trên thị phần.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 24 Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật Cạnh tranh 2018 hoặc có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan. Trước đây với  Luật Cạnh tranh 2004, khi xác định vị trí của một doanh nghiệp trên thị trường có phải là doanh  nghiệp có vị trí thống lĩnh hay không thì chỉ dựa vào tiêu chí thị phần trên thị trường chiếm trên 30%. Thực tế rất nhiều doanh nghiệp trên thị trường có thị phần chưa tới 30% nhưng vẫn có một sức mạnh thị trường đáng kể và vẫn có thể can thiệp vào thị trường dưới nhiều hình thức. Do đó Luật Cạnh tranh 2018 đã bổ sung thêm yếu tố khác ngoài yếu tố thị phần để xác định doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường, kể cả những doanh nghiệp có thị phần dưới 30% thì cơ quan cạnh tranh sẽ đánh giá xem rằng liệu doanh nghiệp có vị trí sức mạnh thị trường hay không. Pháp luật không cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay thậm chí là vị trí độc quyền. Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp lạm dụng vị trí đó để thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành manh thì hành vi đó sẽ bị cấm. Chính vì vậy việc xác định vị trí của doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp như thế nào trên thị trường là điều kiện tiên quyết để xem xét các hành vi cạnh tranh của họ có bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền bị cấm hay không.
Luât Cạnh tranh 2018 có hiệu lực từ ngày 01/07/2019.

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2018

Điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản

Điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản là gì?

Căn cứ tại Điều 3 Nghị định 76/2015/NĐ-CP quy định điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản như sau:






I. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp hoặc hợp tác xã theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) và phải có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng, trừ các trường hợp sau :
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên:
  • Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật  Kinh doanh bất động sản không phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản bao gồm:
  • Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản mà không phải do đầu tư dự án bất động sản để kinh doanh và trường hợp hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản do đầu tư dự án bất động sản để kinh doanh nhưng dự án có tổng mức đầu tư dưới 20 tỷ đồng (không tính tiền sử dụng đất).
  • Tổ chức chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà, công trình xây dựng do phá sản, giải thể, chia tách.
  • Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (AMC), công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và các tổ chức, cá nhân khác chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng dự án bất động sản, bán nhà, công trình xây dựng đang bảo lãnh, thế chấp để thu hồi nợ.
  • Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà, công trình xây dựng để xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xử lý tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.
  • Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua mà không phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về nhà ở.
  • Các cơ quan, tổ chức khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà, công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản công.
  • Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản thuộc sở hữu của mình
2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản quy định tại Chương IV Luật Kinh doanh bất động sản.
II. Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thuộc diện có vốn pháp định quy định tại Khoản 1 Điều này phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của số vốn pháp định quy định tại Khoản 1 Điều này phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của số vốn pháp định.

Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2018

Giải quyết tranh chấp phân chia tài sản chung của vợ chồng sau khi Ly hôn

Quan hệ hôn nhân và gia đình là một quan hệ pháp luật đặc biệt, tồn tại trong đó vừa là quan hệ tài sản vừa là quan hệ nhân thân, tình cảm. Khi xảy ra vấn đề tranh chấp, quan hệ hôn nhân và gia đình luôn là những tranh chấp phức tạp. Trong phạm vi bài viết này người viết bàn về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn.

  1. Thời điểm phát sinh tranh chấp, xác định loại quan hệ và luật áp dụng.
Quan hệ hôn nhân và gia đình luôn bao gồm các quan hệ: quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con, quan hệ tài sản chung của vợ chồng. Thông thường khi giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình, Tòa án thường giải quyết cả ba quan hệ nói trên. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân và gia đình về bản chất cũng là một quan hệ dân sự, Tòa án chỉ giải quyết khi có yêu cầu của đương sự và tuyệt đối không giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự. Có những trường hợp, vợ, chồng chỉ yêu cầu giải quyết một hoặc hai trong ba quan hệ nêu trên. Quan hệ tài sản thường được các đương sự giải quyết sau cùng sau khi đã có bản án/quyết định về việc ly hôn. Việc tranh chấp tài sản chung sau đó được các đương sự khởi kiện thành một vụ án riêng.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, tranh chấp tài sản sau khi ly hôn được xếp vào loại việc tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Xuất phát từ việc tranh chấp tài sản chung khi quan hệ vợ chồng không còn tồn tại nữa nên pháp luật xác định đây là một quan hệ dân sự, tài sản được xác định là tài sản chung giữa các đồng chủ sở hữu, việc phân chia tài sản chung áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự về tài sản chung.
Đến Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã thay đổi quan điểm của nhà làm luật, xác định quan hệ tranh chấp phân chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn thuộc loại quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình, việc phân chia tài sản chung được áp dụng các nguyên tắc theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ). Đồng thời, BLTTDS 2015 cũng xác định tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa chuyên trách Tòa gia đình và người chưa thành niên.
Do đó, khi phát sinh quan hệ tranh chấp phân chia tài sản sau khi ly hôn Tòa án phải xác định vụ án thuộc loại tranh chấp hôn nhân và gia đình, áp dụng nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng quy định tại Luật HNGĐ, không được coi là tranh chấp dân sự.
2. Một số vấn đề khi giải quyết tranh chấp phân chia tài sản sau khi ly hôn.
 Tài sản là bất động sản nhưng chỉ đứng tên một người.
Theo quy định chung của pháp luật, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử thì trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu/quyền sử dụng (GCN) phải có tên tất cả các đồng chủ sở hữu. Đối với tài sản chung của vợ chồng cũng vậy, GCN phải có tên cả vợ và chồng. Tuy nhiên trên thực tế xảy ra rất nhiều trường hợp GCN chỉ đứng tên vợ hoặc đứng tên chồng vì nhiều lý do. Khi xảy ra tranh chấp sẽ rất phức tạp, bởi bên có tên trên GCN cho rằng đó là tài sản riêng mà không phải là tài sản chung.
Để giải quyết tranh chấp, chúng ta phải quan tâm đến các vấn đề sau
  • Thời điểm hình thành tài sản: theo quy định của Luật HNGĐ, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác về chế độ tài sản chung, các tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Thời kỳ hôn nhân là thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng hợp pháp, được tính từ thời điểm đăng ký kết hôn cho đến thời điểm chấm dứt hôn nhân.
Như vậy, nếu bất động sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân luôn được coi là tài sản chung của vợ chồng ngay cả khi chỉ đứng tên một người. Trường hợp bất động sản được tạo lập trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân và chỉ đứng tên một người thì được xác định là tài sản riêng của người đó.
  • Nguồn gốc của việc hình thành tài sản: tức là đi tìm nguồn gốc của số tiền dùng để mua bất động sản. Luật HNGĐ xác định “tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ/chồng là tài sản riêng của vợ/chồng”. Nghĩa là, vợ/chồng sử dụng tiền là tài sản riêng của mình để mua tài sản trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được mua đó được coi là tài sản của người vợ/chồng mà không được coi là tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
Nếu bất động sản được vợ/chồng mua bằng tài sản riêng của mình, chỉ đứng tên của người đó, thì được xác định là tài sản riêng. Tuy nhiên việc chứng minh là tài sản riêng sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi tiền là tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu và rất khó xác định thời điểm hình thành.
  • Luật HNGĐ xác định: “trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ/chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Khi một bên vợ/chồng cho rằng tài sản đang đứng tên mình là tài sản riêng của mình thì người đó có nghĩa vụ chứng minh, người yêu cầu xác định là tài sản chung không bắt buộc phải chứng minh. Nếu không chứng minh được là tài sản riêng, thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Tài sản của vợ/chồng được thừa kế theo pháp luật.
Trong thời kỳ hôn nhân, người vợ hoặc người chồng là người thuộc hàng thừa kế và được chia di sản theo pháp luật. Sau đó, người vợ/chồng được hưởng thừa kế mặc dù không có văn bản thỏa thuận sáp nhật tài sản được thừa kế vào khối tài sản chung nhưng cả hai vợ chồng đều cùng nhau sử dụng. Khi phát sinh tranh chấp, một bên cho rằng đó là tài sản chung và yêu cầu được chia tài sản.
Luật HNGĐ xác định, việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, việc cùng sử dụng tài sản không có ý nghĩa chứng minh tài sản chung.
Thừa kế theo pháp luật luôn là thừa kế riêng của người vợ/chồng nằm trong hàng thừa kế, tài sản đươc thừa kế theo pháp luật luôn là tài sản riêng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Do vậy, tài sản có tranh chấp phải được xác định là tài sản riêng của người được thừa kế.

Việt Nam phê duyệt tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP), tiền thân là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – TPP) gồm 11 nước: New Zealand, Canada, Nhật Bản, Mexico, Singapore, Brunei, Chile, Malaysia, Peru, Australia và Việt Nam. Hiệp định được ký kết vào ngày 08/3/2018 theo giờ địa phương tại Santiago, Chile.

TPP ban đầu từng được kỳ vọng tạo ra khối tự do thương mại lớn nhất toàn cầu với sự tham gia của Mỹ. Tuy nhiên sau khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền đã rút Mỹ khỏi Hiệp định, các thành viên còn lại phải tái đàm phán để thành lập CPTPP. 11 nước tham gia CPTPP còn lại có tổng giá trị GDP khoảng 10.000 tỷ USD, khoảng 13,5% GDP toàn cầu.
Hiệp định này sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường lớn như Nhật Bản, Australia, Canada, Mexico cũng như thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực mà Việt Nam đang có nhu cầu phát triển; giúp Việt Nam phát triển thương mại với các nước như Canada, Mexico hay Peru – các nước chưa ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam. Một trong những cam kết trong CPTPP, đó là cam kết mạnh mẽ trong việc cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa. Theo đó, các nước tham gia CPTPP đồng ý xóa bỏ cho các nước thành viên tham gia gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình, 100% dòng thuế đối với tất cả hàng hóa sẽ về 0% theo lộ trình 7 năm, nhưng với Việt Nam được kéo dài từ 7-10 năm. Tham gia CPTPP, Việt Nam không chỉ cam kết mở cửa thị trường, gỡ bỏ hàng rào thuế quan, tiếp tục tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại, mà còn tiếp tục công khai và minh bạch hóa quản lý nhà nước về phát triển thị trường. Các lĩnh vực, ngành hàng được hưởng lợi nhiều nhất và trực tiếp từ CPTPP có thể kể đến như: dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, đồ uống, bánh kẹo, thuốc lá, rượu bia,…
Bên cạnh đó, CPTPP không chỉ đề cập tới các lĩnh vực truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ,… mà còn quy định những vấn đề mới như lao động, môi trường, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước,… Ngoài ra, Hiệp định CPTPP về cơ bản giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP nhưng do Mỹ rút lui nên cho phép các nước thành viên tạm hoãn một số ít các nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng trong bối cảnh mới.
Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam trước hết cần nắm bắt các cam kết trong CPTPP để tìm được trong đó các xu hướng chính sách có lợi cho mình và chuẩn bị các kế hoạch xây dựng năng lực cạnh tranh, nâng cao uy tín về thương hiệu và chất lượng sản phẩm để đón đầu cho CPTPP.

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

Một số sửa đổi về đăng ký doanh nghiệp từ 10/10/2018

Nghị định 108/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 78/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/10/2018 đã quy định nhiều điểm mới về đăng ký doanh nghiệp. Bài viết này xin làm rõ một số thay đổi như sau :

Nghị định mới quy định làm rõ một số nội dung về thủ tục khi thực hiện đăng ký doanh nghiệp, nổi bật là quy định về không cần đóng dấu vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và làm rõ việc văn bản ủy quyền cho cá nhân thành lập doanh nghiệp không cần công chứng, chứng thực tại Khoản 1 và 2 Điều 1 Nghị định 108/2018/NĐ-CP. Do trước đây không có quy định về vấn đề này dẫn đến một số cơ quan để đảm hồ sơ hợp lệ đã yêu cầu đóng dấu trên hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và công chứng văn bản ủy quyền, điều này gây ra một số trở ngại và phiền phức khi thực hiện thủ tục đăng ký ký doanh nghiệp, với quy định mới này sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ hơn và giải quyết được vấn đề vướng mắc thực tiễn.

Một quy định nữa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đó là trước đây chỉ cho phép doanh nghiệp được lập địa điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc đặt chi nhánh. Có nghĩa rằng muốn lập một địa điểm kinh doanh khác nơi đặt trụ sở, doanh nghiệp phải thực hiện hai thủ tục đó là thành lập chi nhánh và thành lập địa điểm kinh doanh, trong khi thủ tục và hồ sơ thành lập chi nhành phức tạp hơn thành lập địa điểm kinh doanh. Hiện nay, theo Nghị định 108/2018/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp được lập địa điểm kinh doanh khác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc đặt chi nhánh, tạo điều kiện doanh nghiệp mở rộng phạm vi kinh doanh đơn giản và tiết kiệm chi phí, các giao dịch phát sinh của địa điểm kinh doanh được đưa vào hạch toán theo công ty mẹ, do đó giảm tải công việc cho kế toán trong doanh nghiệp.