CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

Quy chế dân chủ tại doanh nghiệp

Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc là những quy định về quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động với các nội dung người lao động được biết, được tham gia ý kiến, được quyết định, được kiểm tra, giám sát và các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Thực hiện quy định đối thoại tại nơi làm việc theo Khoản 3 Điều 63 Bộ luật Lao động: “Người sử dụng lao động, người lao động có nghĩa vụ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định của Chính phủ”, Chính phủ đã ban hành Nghị định 149/2018/NĐ-CP quy định chi tiết việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Nghị định này có hiệu lực từ 01/01/2019 và thay thế Nghị định 60/2013/NĐ-CP.
Thực hiện Quy chế dân chủ, người quản lý công ty, quản lý đơn vị bước đầu đã hiểu được trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động trong doanh nghiệp. Thông qua việc thực hiện Quy chế dân chủ ở công ty, người lao động đã dần ý thức được tầm quan trọng và trách nhiệm của bản thân mình. Người lao động có quyền đóng góp ý kiến, quyền quyết định một số vấn đề trong doanh nghiệp, hay kiểm tra, giám sát những hoạt động liên quan đến quyền, lợi ích của mình. Người lao động được tham gia ý kiến bằng văn bản, biểu quyết tại hội nghị người lao động, trong những cuộc họp triển khai sản xuất của phòng, ban, tổ, đội sản xuất hoặc thông qua tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên,… về những nội dung đã được người sử dụng alo động công bố công khai
Nghị định đã quy định các Nội dung người sử dụng lao động phải công khai tại Điều 4, Nội dung người lao động được tham gia ý kiến tại Điều 5, Nội dung người lao động được quyết định tại Điều 6, Nội dung người lao động được kiểm tra, giám sát tại Điều 7.
Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc phải có sự tham gia ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và được phổ biến công khai đến người lao động trước khi thực hiện. Người sử dụng lao động sử dụng dưới 10 người lao động được miễn trừ tổ chức hội nghị người lao động theo quy định tại Điều 9 và ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc bằng văn bản theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này.
Quy chế dân chủ là một trong những quy chế cần xây dựng và công khai tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần biết và thực hiện Nếu vi phạm quy định này, theo quy định tại Điều 11 Nghị định 95/2013/NĐ-CP, doanh nghiệp sẽ phải chịu chế tài như sau:
“Điều 11. Vi phạm quy định về đối thoại tại nơi làm việc
  1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
  2. a) Không thực hiện nghiêm chỉnh quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định pháp luật;”
Việc thực hiện Quy chế dân chủ nơi làm việc trong các doanh nghiệp góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa giữa doanh nghiệp và người lao động trong quá trình sản xuất, kinh doanh; đồng thời là cơ sở quan trọng giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Bài viết này cung cấp quy định mới về Quy chế dân chủ để các doanh nghiệp được biết.


Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty đại chúng

Ngày 26/05/2015, Chính Phủ ban hành Nghị Định số 60/2015/NĐ-CP (Nghị Định 60) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính Phủ (Nghị Định 58) quy định chi tiết và hướng dẫn thi thành một số điều của Luật Chứng Khoán. Nghị định 60 đã dỡ bỏ hạn chế sở hữu nước ngoài áp dụng đối với chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên việc dỡ bỏ này có kèm theo điều kiện.
Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư nhiều hơn 49%, hoặc thậm chí 100%, vốn có quyền biểu quyết của công ty đại chúng trong trường hợp phạm vi đăng ký kinh doanh của công ty này bao gồm các ngành, nghề mà luật Việt Nam, hoặc cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, hoặc điều ước quốc tế khác trong trường hợp được áp dụng cho phép nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư như vậy. Hơn nữa, khi một công ty đại chúng hoạt động ngành nghề không phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài, và ngành nghề đó cũng chưa được luật Việt Nam quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì không có hạn chế sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trong trường hợp các công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài và khi luật Việt Nam cũng như điều ước quốc tế chưa có quy định cụ thể về sở hữu nước ngoài trong ngành nghề kinh doanh đó, thì vẫn áp dụng quy định về giới hạn 49% vốn có quyền biểu quyết trong công ty đại chúng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Quy định này có hiệu lực từ ngày 01/09/2015 và hiện vẫn được áp dụng.









Gần đây, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đăng tải toàn văn dự thảo Luật Chứng khoán và dự thảo tờ trình Chính phủ của dự án Luật Chứng khoán để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến. Dự kiến, Luật Chứng khoán (sửa đổi) sẽ trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua vào quý 4/2019. Một trong những nội dung đáng chú ý, đó là việc mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với các công ty đại chúng đang nhận được đưa ra lấy ý kiến.
Theo Khoản 1 Điều 32 Dự thảo Luật Chứng khoán: “Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại công ty đại chúng là không hạn chế, ngoại trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Trường hợp công ty đại chúng hoạt động đa ngành, nghề có quy định khác nhau về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài không vượt quá mức thấp nhất trong các ngành, nghề có quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu nước ngoài”. Như vậy, tỷ lệ sở hữu vốn có quyền biểu quyết hiện nay đã được mở rộng đến 100% kể cả những ngành nghề kinh doanh có điều kiện mà Chính phủ không quy định tỷ lệ sở hữu. Dự thảo sửa đổi cho phép người nước ngoài được quyền nắm đa số cổ phần của các công ty hoạt động trong lĩnh vực được coi là không quan trọng đối với an ninh quốc gia. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các công ty Việt Nam vẫn sẽ cần phải nhận được sự chấp thuận của cổ đông để nắm giữ 100% quyền sở hữu. Đây được coi là sửa đổi quan trọng đầu tiên của Luật chứng khoán kể từ năm 2010.
Việc loại bỏ giới hạn sở hữu 49% sẽ cho phép các công ty nước ngoài có thêm quyền quản lý. Đây là động lực để các nhà đầu tư gia nhập thị trường Việt Nam và mở rộng kinh doanh, là điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã và đang tạo điều kiện cho cách doanh nghiệp phá bỏ mức trần sở hữu vốn nướng ngoài, nhưng việc quyết định nâng mức sở hữu vẫn phụ thuộc vào các cổ đông của công ty. Cần lưu ý việc nâng mức sở hữu nước ngoài lên từ 51% trở lên sẽ khiến doanh nghiệp từ doanh nghiệp trong nước trở thành doanh nghiệp nước ngoài. Do doanh nghiệp hay nhà đầu tư nước ngoài phải chịu một số giới hạn, ràng buộc nhất định trong hoạt động kinh doanh so với doanh nghiệp trong nước. Chẳng hạn, khi có trên 51% vốn nước ngoài, doanh nghiệp muốn mua cổ phần trên thị trường chứng khoán sẽ phải đăng ký mã số giao dịch chứng khoán với Trung tâm Lưu ký chứng khoán; với các công ty chứng khoán có nước ngoài nắm trên 51% thì sẽ phải chịu ràng buộc về tự doanh, thanh toán, vay và cho vay đầu tư chứng khoán theo hướng chặt hơn các công ty chứng khoánh nội địa; các doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài trở lên sẽ không được kinh doanh một số ngành nghề như phân phối lúa gạo, đường mía, thuốc lá, dầu thô, dược phẩm,… Do đó, khi tiến hành việc nâng mức sở hữu vốn nước ngoài, các doanh nghiệp cần phải thận trọng trước khi đưa ra quyết định.

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Thành lập công ty phân phối tại Đà Nẵng

Đà Nẵng là một thành phố ở miền trung Việt Nam, với lợi thế là nơi giao thương buôn bán của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đà Nẵng có cảng biển lớn thuộc 10 cảng biển lớn nhất của Việt Nam, thông thương với nhiều nước và khu vực trên thế giới.

Trong bối cảnh Đà Nẵng đang đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, nhiều nhà đầu tư đã lựa chọn Đà Nẵng để thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực phân phối. Đối với ngành nghề này, Việt Nam đã cam kết mở cửa để thu hút 100% vốn đầu tư nước ngoài. Theo như cam kết, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam. Như vậy, nhà đầu tư có thể nhập khẩu hoặc sản xuất hàng xóa, sau đó thực hiện việc phân phối hàng hóa theo quy định
.
Ngoài ra, với tình hình có nhiều khách du lịch đến Đà Nẵng trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng các sản phẩm tiêu dùng, thời trang và nhiều mặt hàng phục vụ khách du lịch ngày càng tăng. Điều này yêu cầu cần có nhiều công ty cung cấp các mặt hàng thiết yếu phục vụ khách du lịch, đây là cơ hội đầu tư lớn cho nhà đầu tư cả trong nước và ngoài nước. Nhà đầu tư nếu nắm được cơ hội này, sẽ thu được lợi nhuận lớn trong kinh doanh và đem lại hiệu quả làm ăn lâu dài.

Bên cạnh đó, với nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong thủ tục hành chính, cũng như quản lý, nhà đầu tư có thể dễ dàng thực hiện các thủ tục cũng như quản lý, kiểm soát doanh nghiệp mình tốt hơn. Những doanh nghiệp đầu tư vào Đà Nẵng, hiện nay đang rất hài lòng với cách dịch vụ công về thủ tục hành chính của thành phố, vì vậy ngày càng nhiều nhà đầu tư lựa chọn Đà Nẵng là điểm đến đầu tư thu hút và hiệu quả khi thực hiện đầu tư tại Việt Nam.


\

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018

Một số lưu ý khi soạn thảo hợp đồng

Trong thực tiễn của đời sống, các giao dịch trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại,…thường diễn ra hết sức thường xuyên và ngày càng phức tạp. Song song với sự phát triển đó, thì những rủi ro pháp lý cũng xảy ra ngày một nhiều hơn và không hề báo trước, nhất là đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, những rủi ro pháp lý trong việc ký kết, thực hiện hợp đồng thường gây ra những thiệt hại nặng nề cả về mặt kinh tế lẫn uy tín của doanh nghiệp. Việc phòng và tránh được các rủi ro có thể xảy ra thông qua hợp đồng thực sự là một vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải quan tâm.
Vậy, làm thế nào để soạn được một bản hợp đồng có thể hạn chế rủi ro tối đa cho doanh nghiệp, bài viết sau xin đưa ra một số kinh nghiệm soạn thảo hợp đồng.
Về hình thức của hợp đồng. Một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là hình thức hợp đồng phải được công chứng, chứng thực trong trường hợp pháp luật có yêu cầu. Ví dụ như hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất, bất động sản, mua bán các phương tiện như ôtô, tàu thủy,… đều phải được lập thành văn bản và phải có công chứng. Nếu không đáp ứng các điều kiện này, giao dịch sẽ vô hiệu và không được pháp luật bảo vệ.
Về nội dung của hợp đồng. Trong một hợp đồng thường quy định rất nhiều điều khoản, vậy nội dung nào cần được chú trọng? Các điều khoản có thể kê đến như điều khoản định nghĩa, quyền và nghĩa vụ của các bên, chấm dứt hợp đồng,… Trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đều đã có các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên, cho phép chấm dứt hợp đồng, bồi thường thiệt hại, do đó khi soạn thảo hợp đồng các bên có thể căn cứ vào đây để soạn thảo, trừ khi cần quy định thêm các trường hợp mở rộng thêm. Thực tế, điều đầu tiên khi soạn thảo hợp đồng các bên cần chú ý điều khoản đối tượng của hợp đồng, chủ thể là ai, mua bán hàng hóa nào, tổng trọng lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào, thời hạn giao hàng và thanh toán ra sao,… Không có điều luật nào quy định rõ ràng các nội dung này, do vậy chính các doanh nghiệp phải tự tạo một giao kết ràng buộc hai bên, đây sẽ là căn cứ để xem xét có sự vi phạm hợp đồng hay không, từ đó xác định trách nhiệm giữa các bên.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, một điều khoản không kém quan trọng đó là điều khoản chọn luật và nơi giải quyết tranh chấp. Nếu có tranh chấp, trọng tài hoặc tòa án sẽ dựa vào những thỏa thuận này để xác định thẩm quyền giải quyết của mình. Nếu không thỏa thuận, sẽ xác định dựa trên các quy tắc tư pháp quốc tế để chọn luật và tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Do đây là điều khoản tùy nghi các bên tự thỏa thuận, các bên phải am hiểu rõ ràng luật pháp của nước sở tại và nước nơi thương nhân bạn hàng có trụ sở để có lợi nhất cho doanh nghiệp của mình.
Ngoài ra, trong xu thế toàn cầu hoá, tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp cũng như trong quá trình đàm phán hợp đồng. Trong lĩnh vực hợp đồng từ lâu đã hình thành những quy tắc ngôn ngữ riêng mà để đảm bảo tính chuyên nghiệp cũng như tránh được lỗi trong việc soạn thảo khiến việc soạn thảo hợp đồng trở nên không còn thông dụng và dễ dàng, nhất là đối với các hợp đồng thương mại quốc tế. Do vậy, doanh nghiệp cần phải tự trang bị các kiến thức về Tiếng anh pháp lý hoặc nhờ đến sự trợ giúp của luật sư để soạn thảo một bản hợp đồng chuyên nghiệp và hạn chế rủi ro một cách thấp nhất có thể.
Trên đây là một số lưu ý cơ bản trong quá trình soạn thảo hợp đồng, tuy nhiên soạn một hợp đồng hiệu quả khi hợp đồng đó đáp ứng các điều kiện cơ bản, đồng thời phù hợp điều kiện của các bên trong hợp đồng đó tạo điều kiện thực hiện hợp đồng lý tưởng, do vậy, các chủ thể của hợp đồng sẽ áp dụng linh hoạt các điều kiện thực tế của các bên cũng như quy định pháp luật để xây dựng một hợp đồng hiệu quả nhất.


Thứ Tư, 26 tháng 9, 2018

Trách nhiệm tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân


Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ hôn nhân được xác lập giữa nam và nữ khi đủ điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn. Đăng ký kết hôn tạo lập một quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời cũng ràng buộc các chủ thể (vợ và chồng) trong quan hệ với những trách nhiệm pháp lý nhất định – trách nhiệm liên đới.
Trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng là trách nhiệm do vợ và chồng cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai phải thực hiện toàn bộ trách nhiệm. Trách nhiệm này thường phát sinh từ nghĩa vụ đối với tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Tài sản giữa vợ chồng gồm hai loại: tài sản chung và tài sản riêng. Đối với các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng sẽ do cả hai người cùng thỏa thuận và đồng ý thực hiện, do đó luôn tồn tại trách nhiệm liên đới. Ngoài ra, với các giao dịch do chỉ một bên thực hiện đối với tài sản chung như: đại diện trong quan hệ dân sự, kinh doanh; diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu; nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, đồng thời giao dịch này phải hợp pháp cũng phát sinh trách nhiệm liên đới.
Mặc dù về mặt nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự, tài sản của người nào thì chính người đó có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt; các nghĩa vụ, trách nhiệm phát sinh từ các quyền này sẽ do chính người đó chịu. Nhưng đối với tài sản riêng, vẫn tồn tại trường hợp giao dịch do chỉ riêng vợ hoặc chồng bằng tài sản của mình thực hiện nhưng vẫn phát sinh trách nhiệm liên đới đối với bên còn lại, có thể kể đến như việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
Việc quy định trách nhiệm liên đới về tài sản của vợ chồng vừa bảo đảm lợi ích của vợ chồng, lợi ích của gia đình, quyền lợi của người thứ ba khi tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng, và là cơ sở pháp lý giải quyết các tranh chấp trong thực tế. Vì vậy, việc quy định trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng là vô cùng quan trọng.

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018

Ấn Độ điều tra chống trợ cấp của các mặt hàng thép không gỉ nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc.

Ngày 09/08/2018, Bộ Công Thương Ấn Độ ra thông báo thực hiện việc điều tra nhằm áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ từ Việt Nam và Trung Quốc.
Theo thông báo của Bộ Công Thương Ấn Độ, đã có một số bằng chứng chứng minh mặt hàng thép không gỉ của Việt Nam và Trung Quốc nhận được những hỗ trợ từ Chính phủ, địa phương hay ngân hàng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh đối với mặt hàng thép không gỉ trong nước. Theo thông tin trong đơn khởi kiện của các Công ty, Hiệp hội sản xuất thép của Ấn Độ gửi lên Các cơ quan thẩm quyền của Ấn Độ, yêu cầu điều tra chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc.
Theo yêu cầu điều tra của các Công ty, Hiệp hội sản xuất thép từ Ấn Độ, đã có một số chương trình hỗ trợ đến từ các Cơ quan có thẩm quyền, ngân hàng từ Trung Quốc và Việt Nam nhằm giúp đỡ cho nền sản xuất thép không gỉ cho các doanh nghiệp trong nước. Điều này ảnh hưởng đến vấn đề cạnh tranh trực tiếp đối với các Công ty của Ấn Độ.
Theo như thông tin Ấn Độ đưa ra, tại Trung Quốc, đã có nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ đến từ các Cơ quan để giúp các doanh nghiệp sản xuất thép từ Chính phủ, các tỉnh, gồm những chính sách ưu đãi như hỗ trợ về thuế xuất nhập khẩu, hỗ trợ cho vay, trợ giá từ nhà nước,…
Tại Việt Nam, các Công ty, Hiệp hội sản xuất thép của Ấn Độ đã đưa ra những chương trình, chính sách ưu đãi từ nhà nước nhằm giúp doanh nghiệp như: ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu hoặc hoàn thuế nguyên liệu, giảm thuế sử dụng đất… Một số ưu đãi về tín dụng đến từ ngân hàng Phát triển Việt Nam và ngân hàng Vietinbank trong cho vay với lãi suất thấp, bảo lãnh tài chính,…
Từ những thông tin yêu cầu của các Công ty, Hiệp hội sản xuất thép tại Ấn Độ, Bộ Công Thương Ấn Độ đã ra thông báo thực hiện điều tra, nhằm áp dụng thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc nhằm đảm bảo tính cạnh tranh, cũng như bảo vệ ngành sản xuất thép trong nước của mình.


Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

Luật cạnh tranh 2018 và điểm mới

Luật cạnh tranh 2018 được thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2019. Luật cạnh tranh 2018 có những thay đổi cơ bản so với Luật cạnh tranh 2004, theo đó có những quy định mới mà các doanh nghiệp cần biết, đặc biệt liên quan tới các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.


Thứ nhất, Luật cạnh tranh 2018 đã bỏ quy định về giới hạn của hành vi tập trung kinh tế. Theo đó, Điều 30 quy định cấm doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam. Khác với quy định trước đây, Luật cạnh tranh 2004 quy định cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan.

Thứ hai, quy định chính sách khoan hồng với doanh nghiệp vi phạm. Điều 112 của Luật này quy định về chính sách khoan hồng đối với các doanh nghiệp vi phạm quy định về cạnh tranh – điều mà Luật Cạnh tranh 2004 không đề cập tới. Theo đó, doanh nghiệp tự nguyện khai báo giúp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện, điều tra và xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm sẽ được miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng. Chính sách khoan hồng được áp dụng cho không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hưởng khoan hồng đến Ủy ban Cạnh tranh quốc gia.

Thứ ba, ấn định mức xử phạt cụ thể với hành vi phạm về cạnh tranh. Khác với Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018 quy định cụ thể về mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Trong đó:
– Vi phạm quy định về tập trung kinh tế: Phạt tối đa 5% tổng doanh thu của doanh nghiệp trên thị trường liên quan
– Vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh: Phạt tối đa 2 tỷ đồng
– Vi phạm quy định khác: Phạt tối đa 200 triệu đồng.
Trên đây là mức vi phạm với tổ chức; với cá nhân, mức phạt bằng 1/2.

Thứ tư, thay đổi về căn cứ để xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế. Trước đây, Luật Cạnh tranh 2004 quy định: Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế. Hiện nay, Luật Cạnh tranh 2018 không quy định cụ thể như trên, mà chỉ quy định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế được xác định căn cứ vào 1 trong 4 tiêu chí:
– Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế;
– Tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế;
– Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế;
– Thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.

Thứ năm, quy định mới thời hạn xử lý vụ việc vi phạm về cạnh tranh. Trước đây, để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm tập trung kinh tế phải trải qua giai đoạn điều tra sơ bộ và điều tra chính thức. Trong đó, điều tra sơ bộ là 30 ngày; điều tra chính thức là 60 ngày với cạnh tranh không lành mạnh; 180 ngày với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế… Luật Cạnh tranh 2018 không còn quy định về hai giai đoạn điều tra nêu trên, mà chỉ quy định: Thời hạn điều tra là 09 tháng đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh; 90 ngày với vụ việc tập trung kinh tế; 60 ngày với cạnh tranh không lành mạnh.